vanban.org

Bản án 786/2023/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 30/10/2023 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/10/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của UBND quận ĐĐ và Chủ tịch UBND thành phố HN. Giữ nguyên các quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 85/2022/HCST ngày 24/06/2022 của Tòa án nhân dân thành phố HN.

Án phí hành chính phúc thẩm: Ủy ban nhân dân quận ĐĐ phải chịu 300.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Bùi Xuân P1 - UBND DD"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của UBND quận ĐĐ và Chủ tịch UBND thành phố HN. Giữ nguyên các quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 85/2022/HCST ngày 24/06/2022 của Tòa án nhân dân thành phố HN.
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 114 Luật Đất đai; Điều 241 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 786 /2023/HC-PT
Ngày 30/10/2023
“Khởi kiện quyết định hành chính trong
lĩnh vực quản lý đất đai”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Hồng Sơn;

Các Thẩm phán:

Ông Hồ Sỹ Hưng;

Bà Phan Thị Vân Hương.

Thư ký phiên tòa: Ông Lương Hải Anh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 30 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử công khai vụ án hành chính thụ lý số 423/2023/TLPT-HC ngày 13 tháng 6 năm 2023 về việc “Khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, do có kháng cáo của người bị kiện đối với bản án hành chính sơ thẩm số 85/2022/HCST ngày 24/06/2022 của Tòa án nhân dân thành phố HN.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12126/2023/QĐ-PT ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội; giữa các đương sự:

I. Người khởi kiện:

- Ông Bùi Xuân P1, sinh năm 1988 (vắng mặt);

Nơi ở: Số 319, nhà A, Khu tập thể R, phố TL, phường ĐN, quận HBT, thành phố HN.

- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Xuân S, sinh năm 1956 (có mặt);

Nơi ở: Số 319, nhà A, Khu tập thể R, phố TL, phường ĐN, quận HBT, thành phố HN.

II. Người bị kiện:

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố HN;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trọng Đ - Phó chủ tịch UBND thành phố HN (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Ủy ban nhân dân (UBND) quận ĐĐ, thành phố HN;

- Chủ tịch UBND quận ĐĐ;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trịnh Hữu T - Phó Chủ tịch UBND quận ĐĐ (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Những người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện gồm:

Ông Nguyễn Mạnh D - Phó Trưởng phòng TN&MT (vắng mặt);

Ông PH Anh M - Phó Chủ tịch UBND phường PM (vắng mặt);

Ông Nguyễn Hoàng H - Giám đốc Ban QLDA đầu tư xây dựng (vắng mặt);

Ông Nguyễn Hoàng D - Trưởng phòng GPMB Ban QLDA đầu tư xây dựng (vắng mặt);

Bà Tạ Thị Thu P2 - Chuyên viên Ban QLDA đầu tư xây dựng (vắng mặt);

Ông Nghiêm Xuân H - Chuyên viên Ban QLDA đầu tư xây dựng (có mặt).

III. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- UBND phường PM, quận ĐĐ, thành phố HN (vắng mặt);

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phùng Anh M - Phó Chủ tịch UBND phường PM (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

I. Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, người khởi kiện trình bày như sau:

Ngày 12/01/2007, UBND quận ĐĐ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) cho ông Đặng Ngọc Q và bà Lương Thị Bích L thửa đất số 84/54,3 tờ bản đồ số 5H-I- II tại địa chỉ số 6 ngõ 259 đường GP, phường PM, thành phố HN, diện tích 53,8 m2, mục đích sử dụng đất ở đô thị. Thời hạn sử dụng: Lâu dài. Tài sản trên đất là nhà xây gạch 1 tầng, diện tích xây dựng là 53,8 m2, diện tích sử dụng là 45,1 m2. Ngày 01/6/2007, ông Q và bà L chuyển nhượng nhà đất trên cho ông Bùi Xuân P1. Thực tế gia đình ông P1 sử dụng là 55,23 m2.

Thực hiện dự án xây dựng đường vành đai 2, đoạn VT - CM - NTV; ngày 27/3/2020, UBND quận ĐĐ ban hành Quyết định số 845/QĐ-UBND thu hồi 55,23 m2 đất của ông Bùi Xuân P1 tại địa chỉ trên. Cùng ngày UBND quận ĐĐ ban hành Quyết định số 860/QĐ-UBND phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Theo đó tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ông Bùi Xuân P1 được nhận là 2.249.567.782 đồng, được mua 01 căn hộ tái định cư. Số tiền mua nhà tái định cư 1.317.060.000 đồng. Tổng số tiền còn được nhận là 932.508.000 đồng.

Ngày 16/4/2020, ông P1 gửi đơn khiếu nại Quyết định số 860/QĐ-UBND đến UBND quận ĐĐ lý do quận áp dụng giá đất cụ thể để tính bồi thường không phải là giá đất tại thời điểm quyết định thu hồi đất, việc đền bù về đất theo Quyết định 5151/QĐ-UBND là không đúng vì quyết định này đến thời điểm quyết định thu hồi đất đã hết hiệu lực, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông.

Ngày 04/5/2020, UBND thành phố HN ban hành Thông báo số 136/TB-VP Kết luận của phó Chủ tịch UBND thành phố HN Nguyễn Quốc H tại cuộc họp giải quyết vướng mắc trong công tác giải phòng mặt bằng và triển khai Dự án Vành đai 2 đoạn Cầu MĐ - NTV trên địa bàn quận HBT và quận ĐĐ.

Nội dung:

1.2. Về giá đất bồi thường, hỗ trợ: UBND quận ĐĐ thông báo cho người dân về giá đất cụ thể đã được UBND thành phố Quyết định phê duyệt cho Dự án theo đúng quy định của pháp luật;

1.3. Về xác định vị trí đất làm cơ sở bồi thường đối với 15 hộ do ngõ đi có mặt cắt ngang không ổn định, vị trí mặt ngõ nhỏ nhất 1,96m: Thống nhất cho phép UBND quận ĐĐ áp dụng bồi thường, hỗ trợ về đất theo vị trí 3.

Ngày 22/6/2020, UBND quận ĐĐ ban hành Quyết định số 1769/QĐ-UBND về phê duyệt điều chỉnh bổ sung, lý do điều chỉnh do không nhận 01 căn tái định cư và xin tự lo tái định cư, tăng tiền bồi thường về đất (vị trí 4 áp dụng vị trí 3 đường GP do xác nhận bổ sung về nguồn gốc đất, tăng tiền bồi thường, hỗ trợ về tài sản. Theo đó tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo Quyết định 1769 là: 2.694.471.973 đồng.

Ngày 18/08/2020, Chủ tịch UBND quận ĐĐ ban hành Quyết định số 2554/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại (lần đầu), giữ nguyên quyết định 860.

Ông P1 tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch UBND thành phố HN.

Ngày 23/4/2021, Chủ tịch UBND thành phố HN ban hành Quyết định số 1864/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại (lần 2) có nội dung đồng ý với Quyết định số 2554/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND quận ĐĐ.

Ngày 14/06/2021 ông Bùi Xuân P1 gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố HN yêu cầu hủy bỏ:

- Quyết định số 860/QĐ-UBND ngày 27/3/2020 của UBND quận ĐĐ về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

- Quyết định số 1769/ QĐ-UBND ngày 22/06/2020 của UBND quận ĐĐ về phê duyệt điều chỉnh bổ sung.

Yêu cầu UBND quận ĐĐ ban hành Quyết định phê duyệt phương án bồi thường theo giá đất mới cho hộ gia đình ông theo Quyết định số 30/2019/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND thành phố HN về việc ban hành Quy định và bằng giá các loại đất trên địa bàn thành phố HN áp dụng từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2024.

II. Phía người bị kiện trình bày như sau:

* Chủ tịch và UBND quận ĐĐ trình bày:

Về trình tự thủ tục và căn cứ pháp lý để UBND quận ĐĐ ban hành quyết định thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường thực hiện theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 114 Luật đất đai thì giá đất cụ thể để làm căn cứ để tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Việc xác định giá đất cụ thể làm căn cứ tính bồi thường, hỗ trợ được thực hiện trước thời điểm thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Việc áp dụng giá đất khi thực hiện giải phóng mặt bằng dự án thực hiện theo Quyết định số 5151/QĐ-UBND ngày 26/9/2018 của UBND thành phố HN đã hướng dẫn.

Ngày 09/06/2020, UBND thành phố HN có văn bản số 2290/UBND-KT xử lý vướng mắc về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố HN, trong đó UBND thành phố chỉ đạo: Đối với trường hợp UBND cấp huyện đã ban hành quyết định thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư một phần thì tiếp tục thực hiện bồi thường, hỗ trợ theo giá đất đã được phê duyệt, đảm bảo tính kế thừa và thống nhất trong cùng dự án.

Như vậy, phần diện tích 53,8 m2 bồi thường tỷ lệ 100% đơn giá đất cụ thể tại Quyết định số 5151/QĐ-UBND và Thông báo số 299/TB-CP là đúng thẩm quyền, đúng quy định và đúng chỉ đạo của UBND thành phố HN tại Văn bản 2290/UBND-KT. Phần diện tích 1,29 m2 bồi thường tỉ lệ 100% x đơn giá đất cụ thể của Dự án là đúng thẩm quyền, đúng quy định. Đối với phần diện tích 0,14m2 nằm trên ngõ đi chung của khu tập thể không đủ điều kiện bồi thường.

Về bồi thường, hỗ trợ tài sản trên đất thực hiện theo Thông báo số 136/TB-VP của UBND thành phố HN.

Việc bố trí tái định cư thực hiện theo quy định tại Quyết định số 10/2017 của UBND thành phố HN.

Về giải quyết khiếu nại, Chủ tịch UBND quận ĐĐ ban hành Quyết định số 2554/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại (lần đầu), theo đó giữ nguyên quyết định 860 là đúng quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền và các căn cứ áp dụng.

* Ý kiến của Chủ tịch UBND thành phố HN:

Chủ tịch UBND thành phố HN giữ nguyên quan điểm và các nội dung tại Quyết định số 1864/QĐ-UBND ngày 23/4/2021 giải quyết khiếu nại lần hai đối với ông Bùi Xuân P1. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố HN xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

III. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

* Ý kiến của UBND phường PM:

Khẳng định việc xác nhận nguồn gốc đất và diễn biến việc sử dụng đất của ông Bùi Xuân P1 để làm căn cứ thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi UBND quận ĐĐ thu hồi đất là đúng với thực tế và phù hợp các quy định của pháp luật.

* Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 85/2022/HCST ngày 24/06/2022, Tòa án nhân dân thành phố HN đã quyết định:

Căn cứ khoản 2 Điều 3; Điều 30, 32, 116, điểm b khoản 2 Điều 193, 194, 204, 206 Luật tố tụng hành chính;

Căn cứ Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.

Căn cứ Luật đất đai năm 2013.

Căn cứ Quyết định số 10/2017/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của UBND thành phố HN về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;

Căn cứ Quyết định số 30/2019/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND thành phố HN về giá các loại đất trên địa bàn thành phố HN.

Căn cứ Luật khiếu nại năm 2011;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí. Xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ông Bùi Xuân P1, cụ thể:

- Hủy một phần Quyết định số 860/QĐ-UBND ngày 27/3/2020 và hủy một phần Quyết định số 1769/QĐ-UBND ngày 22/6/2020 của Ủy ban nhân dân quận ĐĐ về phê duyệt về phương án bồi thường và phê duyệt điều chỉnh bổ sung phần bồi thường về đất ở.

- Hủy Quyết định số 2554/QĐ-UBND ngày 18/08/2020 của Chủ tịch UBND quận ĐĐ về việc giải quyết khiếu nại( lần đầu) và Quyết định số 1864/QĐ-UBND ngày 23/4/2021 Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố HN việc giải quyết khiếu nại( lần hai).

Buộc Ủy ban nhân dân quận ĐĐ phải thực hiện lại việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ về đất cho hộ gia đình ông Bùi Xuân P1 theo đúng trình tự thủ tục, đúng quy định của pháp luật.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định.

- Ngày 05/9/2022 và 12/9/2022, người bị kiện là UBND quận ĐĐ và Chủ tịch UBND thành phố HN kháng cáo đối với bản án sơ thẩm nêu trên.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Ông Bùi Xuân S là đại diện theo ủy quyền của ông Bùi Xuân P1 trình bày giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; giữ nguyên các ý kiến trình bày như đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm,

- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người bị kiện cho rằng UBND quận ĐĐ đã thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, giải quyết khiếu nại theo đúng quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm bác đơn khởi kiện của người khởi kiện.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại HN phát biểu ý kiến đánh giá việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm là đúng quy định của pháp luật; đơn kháng cáo hợp lệ trong thời hạn nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm; tại phiên tòa phúc thẩm, người bị kiện và một số người tham gia tố tụng khác vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt là không trái quy định. Về nội dung: Qua xem xét toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa thấy: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện ngày 27/3/2020, UBND quận ĐĐ ban hành quyết định thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư nhưng không áp dụng giá đất cụ thể tại thời điểm quyết định thu hồi đất theo Quyết định số 30/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND thành phố HN để xác định làm căn cứ áp dụng chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư mà lại áp dụng Quyết định 5151/QĐ-UBND ngày 26/9/2018 của UBND thành phố về giá đất cụ thể để tính bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là không đúng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 241 Luật tố tụng hành chính, không chấp nhận kháng cáo của người bị kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai tại phiên tòa; xét các ý kiến trình bày của các bên đương sự; quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại HN; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

[I]. Về tố tụng:

. Về xác định đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết:

- Quyết định số 860/QĐ-UBND ngày 27/3/2020 của UBND quận ĐĐ về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

- Quyết định số 1769/QĐ-UBND ngày 22/6/2020 của UBND quận ĐĐ về phê duyệt điều chỉnh bổ sung phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại Quyết định số 860/QĐ-UBND.

- Quyết định số 2554/QĐ-UBND ngày 18/08/2020 của Chủ tịch UBND quận ĐĐ về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) và Quyết định số 1864/QĐ-UBND ngày 23/4/2021 Chủ tịch UBND thành phố HN giải quyết khiếu nại (lần hai).

- Quyết định số 845/QĐ-UBND ngày 27/3/2020 của UBND quận ĐĐ về việc thu hồi đất là Quyết định hành chính liên quan cũng được xem xét trong vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 32 Luật tố tụng hành chính, ông Bùi Xuân P1 khởi kiện các quyết định hành chính nêu trên nên Tòa án nhân dân thành phố HN thụ lý giải quyết là đúng.

. Về thời hiệu khởi kiện:

Ngày 14/6/2021, ông Bùi Xuân P1 gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố HN để yêu cầu hủy các quyết định nêu trên là trong thời hiệu quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính năm 2015.

. Về điều kiện xét xử vắng mặt đương sự:

Chủ tịch UBND thành phố HN, Chủ tịch và UBND quận ĐĐ, UBND phường PM xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

Kháng cáo hợp lệ theo đúng quy định tại Điều 205, Điều 206 Luật tố tụng hành chính.

[II]. Về nội dung:

. Dự án xây dựng tuyến đường bộ trên cao dọc đường vành đai 2 đoạn từ cầu VT đến NTS, kết hợp với mở rộng theo quy hoạch phần đi nằm đoạn từ VT đến NTV theo hình thức BT trên địa bàn quận ĐĐ là dự án thuộc trường hợp thu hồi đất theo khoản 2 Điều 62 Luật đất đai.

Ngày 07/8/2018, UBND quận ĐĐ ban hành Thông báo về việc thu hồi đất để thực hiện Dự án xây dựng tuyến đường bộ trên cao dọc đường Vành đai 2 đoạn từ cầu VT đến Ngã Tư Sở, kết hợp mở rộng theo quy hoạch phần đi bằng đoạn từ VT đến NTV theo hình thức BT. Thông báo thu hồi đất được gửi đến ông P1 có đất bị thu hồi.

Ngày 26/10/2018, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư quận ĐĐ đã phối hợp với UBND phường PM tiến hành điều tra, khảo sát, đo đạc xác định diện tích đất, thống kê nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại thửa đất nhà ông P1 (có chữ ký xác nhận của ông P1).

Ngày 07/10/2019, UBND phường PM ban hành Giấy xác nhận về việc sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất bị thu hồi, số nhân khẩu trực tiếp đang ở trên đất bị thu hồi.

. Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành các quyết định:

Căn cứ Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Luật đất đai năm 2013, Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017, các Nghị định 44, 47; Quyết định số 10/QĐ-UBND ngày 29/03/2017 của UBND thành phố HN về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố HN. Ngày 27/3/2020, UBND quận ĐĐ ban hành Quyết định số 845/QĐ-UBND về việc thu hồi đất và Quyết định số 860/QĐ-UBND về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Ngày 22/6/2020, ban hành Quyết định số 1769/QĐ-UBND phê duyệt điều chỉnh bổ sung phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại Quyết định số 860/QĐ-UBND là đúng trình tự, thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

. Về nguồn gốc sử dụng đất:

Ngày 22/9/2019, UBND phường PM có Giấy xác nhận về việc sử dụng đất, về các tài sản gắn liền với đất bị thu hồi về hộ gia đình, cùng số nhân khấu đang trực tiếp sinh sống tại địa điểm thu hồi đất để thực hiện dự án Xây dựng tuyến đường bộ trên cao dọc đường Vành đai 2 từ cầu VT đến Ngã Tư Sở kết hợp với mở rộng theo quy hoạch phần đi bằng đoạn từ VT đến NTV theo hình thức BT, cụ thể như sau:

Người sử dụng đất là ông Bùi Xuân P1. Tổng diện tích đang sử dụng 55,23 m2, diện tích thu hồi 55,23m2, diện tích còn lại: 0m2, trong đó: 53,8 m2 đã được UBND quận ĐĐ cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 12/01/2007 (mã số GCN: 10109293266). Diện tích không có giấy tờ về quyền sử dụng đất: 1,43 m2 sử dụng sau 12/01/2007 - thời điếm cấp GCNQSDĐ.

Ngày 29/4/2020, UBND phường PM có Giấy xác nhận đính chính, bổ sung về việc sử dụng đất bị thu hồi: Tổng diện tích đang sử dụng 55,23 m2, diện tích thu hồi 55,23m2, diện tích còn lại: 0m2, trong đó: 53,8 m2 đã được UBND quận ĐĐ cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 12/01/2007 (mã số GCN: 10109293266). Diện tích không có giấy tờ về quyền sử dụng đất: 1,29 m2 sử dụng sau 12/01/2007 - thời điếm cấp GCNQSDĐ. Diện tích 1,29 m2 là phần diện tích không có giấy tờ về quyền sử dụng đất ở, là phần diện tích sai số đo đạc trong quá trình cấp GCNQSDĐ của Tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị Bộ Quốc Phòng, gia đình sử dụng toàn bộ ranh giới thửa đất không thay đổi, không tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề, không lấn chiếm từ năm 2002 đến thời điểm giải phóng mặt bằng. Diện tích 0,14 m2 nằm trên ngõ đi chung của khu tập thể.

UBND quận ĐĐ ban hành quyết định thu hồi đất là đảm bảo đúng diện tích được bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.

. Về chính sách bồi thường:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 74, khoản 3, khoản 4 Điều 114 Luật Đất đai 2013. Ngoài ra, căn cứ điểm đ khoản 4 Điều 114 Luật Đất đai 2013, khoản 5 Điều 4 Nghị định 44/2014/NĐ-CP của Chính phủ Quy định về giá đất và khoản 4 Điều 3 Nghị định 01/2017/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai, giá đất cụ thể được xác định bằng phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất áp dụng đối với trường hợp tính tiền bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi thì ngày 31/12/2019, UBND thành phố HN đã ban hành Quyết định số 30/QĐ-UBND về việc ban hành quy định và Bảng giá các loại đất trên địa bàn thành phố HN áp dụng từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2024.

Ngày 27/3/2020, UBND quận ĐĐ ban hành Quyết định số 860/QĐ-UBND thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Đáng lẽ UBND quận ĐĐ phải áp dụng giá đất cụ thể tại thời điểm quyết định thu hồi đất để áp dụng chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thì mới đúng, nhưng UBND quận ĐĐ lại vận dụng văn bản đã hết hiệu lực là Quyết định số 5151/QĐ-UBND ngày 26/9/2018 của UBND thành phố về giá đất cụ thể để tính bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là sai quy định. Bởi lẽ, Quyết định 5151/QĐ-UBND được ban hành dựa trên Bảng giá đất của Quyết định 96/QĐ-UBND ngày 29/12/2014 của UBND thành phố HN có hiệu lực đến ngày 31/12/2019.

Quyết định số 1769/QĐ-UBND ngày 22/6/2020 về phê duyệt điều chỉnh bổ sung phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư quận căn cứ Quyết định số 30/2019/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND thành phố HN về việc ban hành quy định và bảng giá các loại đất trên địa bàn thành phố HN áp dụng từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2024. Tuy nhiên, trong Phương án chi tiết quận không áp dụng theo Bảng giá đất của Quyết định 30/2019 mà vẫn áp dụng bảng giá đất theo Quyết định 96/2014 đã hết hiệu lực là sai (giá đất theo Quyết định 30 vị trí 3 Giải Phóng: 22.898.000 đ/m2. Giá đất theo Quyết định số 96 vị trí 3 Giải Phóng: 19.740.000 đ/ m2). Việc áp dụng sai chính sách bồi thường về giá đất đã gây thiệt hại cho gia đình ông Bùi Xuân P1, việc phải hủy phần Quyết định số 860/QĐ-UBND và Quyết định số 1769/QĐ-UBND về phê duyệt phương án bồi thường của UBND quận ĐĐ là hoàn toàn cần thiết.

Do Quyết định số 860/QĐ-UBND và Quyết định số 1769/QĐ-UBND phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư không đúng nên Quyết định giải quyết khiếu nại số 2554/QĐ-UBND ngày 18/08/2020 của Chủ tịch UBND quận ĐĐ có nội dung giữ nguyên Quyết định số 860/QĐ-UBND của UBND quận ĐĐ và Quyết định số 1864/QĐ-UBND ngày 23/4/2021 của Chủ tịch UBND thành phố HN giải quyết khiếu nại có nội dung đồng ý với nội dung Quyết định số 2554/QĐ-UBND ngày 18/8/2020 của Chủ tịch UBND quận ĐĐ cũng không đúng, nên cần hủy bỏ.

Tổng hợp những phân tích như viện dẫn nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy Tòa án cấp sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là có căn cứ nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của phía người bị kiện. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên; căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của UBND quận ĐĐ và Chủ tịch UBND thành phố HN. Giữ nguyên các quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 85/2022/HCST ngày 24/06/2022 của Tòa án nhân dân thành phố HN.

2. Án phí hành chính phúc thẩm:

- Ủy ban nhân dân quận ĐĐ phải chịu 300.000 đồng.

- Chủ tịch UBND thành phố HN phải chịu 300.000 đồng.

Được đối trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các Biên lai thu tiền số AA/2021/0001103 và AA/2021/0001106 cùng ngày 19/10/2022 của Cục Thi hành án dân sự thành phố HN (xác nhận các đương sự đều đã nộp xong án phí hành chính phúc thẩm).

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ