vanban.org

Bản án 786/2022/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Tuyết; Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Tuyết được ly hôn với ông Vương Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LE THI T"
  • Tòa quyết gì? ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 786/2022/HN-ST
Ngày: 23- 6 - 2020
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : Bà Phạm Thị Lệ Hà

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hồi

2. Bà Trần Thị Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Lâm Minh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Tuyết Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 05 và 23 tháng 6 năm 2022 tại phòng xử Tòa án nhân dân

huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân

sự thụ lý số 789/2021/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2021, về việc

“Tranh chấp ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày

11 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa dân sự sơ thẩm số

95/2022/QĐST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2022, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Tuyết, sinh năm 1971 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp Hốc Măng, xã Long Tân, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

2. Bị đơn: Ông Vương Minh Lâm, sinh năm 1973 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Số 32/1 Ấp 3, xã Nhị Bình, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN THẤY:

* Theo Đơn khởi kiện ngày đề ngày 18/11/2021 (Toà án nhân dân huyện

Hóc Môn nhận ngày 23/11/2021) và Bản tự khai ngày 18/11/2021 và

28/02/2022, nguyên đơn bà Lê Thị Tuyết trình bày:

Bà Tuyết và ông Vương Minh Lâm tự nguyện chung sống với nhau có

đăng ký kết hôn ngày 11 tháng 5 năm 2012 tại Uỷ ban nhân dân xã Long Tân, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống không hợp, thường xuyên gây gỗ, xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, giữa vợ chồng sống chung không còn tình cảm và không sống chung với nhau đựơc. Trên thực tế, bà và ông Vương Minh Lâm cũng đã ly thân từ năm 2013. Nay tôi xin đựơc ly hôn với ông Vương Minh Lâm.

- Về con chung: Không có.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ dân sự (nợ chung): Không có

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tuân theo pháp luật tố tụng:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng quy định của Bộ

luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý sơ thẩm và xét xử. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự, riêng bị đơn hiện đang sinh sống tại địa phương, trực tiếp nhận văn bản triệu tập nhưng vắng mặt không đến Toà án nên chưa thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định.

Về nội dung:

Bà Lê Thị Tuyết và ông Vương Minh Lâm tự nguyện chung sống với

nhau và đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Theo bà Tuyết, sayu khi kết hôn vợ chồng chung sống không hoà hợp do bất đồng quan điểm và đã sống ly thân từ năm 2013 đến nay. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng từ lâu, ly thân từ năm 2013 đến nay, đồng thời sau khi Toà án thụ lý vụ án, ông Lâm cũng không tham gia hoà giải hay trình bày ý kiến của mình, chứng tỏ ông Lâm không quan tâm để hàn gắn quan hệ vợ chồng. Vì vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, yêu cầu của bà Tuyết có cơ sở chấp nhận. Con chung, tài sản chung không có nên không xem xét.

XÉT THẤY:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Lê Thị Tuyết yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Vương

Minh Lâm hiện đang cư trú tại địa chỉ số 32/1 Ấp 3, xã Nhị Bình, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và

điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật là

“Tranh chấp ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án

nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguyên đơn bà Lê Thị Tuyết có Đơn xin xét xử vắng mặt ngày

11/5/2022. Đối với bị đơn ông Vương Tuyết Lâm, Tòa án nhân dân huyện Hóc

Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện tống đạt hợp lệ được nhưng vẫn

vắng mặt tại phiên tòa và không cung cấp lời khai, tài liệu chứng cứ. Căn cứ

khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến

hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Bà Lê Thị Tuyết và ông Vương Minh Lâm tự nguyện đăng ký kết hôn,

được Ủy ban nhân dân Thành phố xã Long Tân, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình

Dương cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 22/2012 Quyển số 01/2012

ngày 11tháng 5 năm 2012 nên là hôn nhân hợp pháp.

Về yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Tuyết,

Xét thấy, sau khi kết hôn, vợ chồng bà Tuyết và ông Lâm chung sống

không hạnh phúc, không quan tâm nhau, sống ly thân từ năm 2013, nay bà Lê

Thị Tuyết xác nhận không còn tình cảm với ông Vương Tuyết Lâm. Về phía ông

Vương Minh Lâm dù đã được Tòa án thông báo yêu cầu xin ly hôn của bà Lê

Thị Tuyết nhưng ông không phản hồi, không thể hiện ý chí muốn hàn gắn đoàn

tụ, điều này cho thấy vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không

đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, yêu cầu

của bà Lê Thị Tuyết xin ly hôn ông Vương Minh Lâm là có cơ sở, Hội đồng xét

xử chấp nhận.

Về con chung, nợ chung và tài sản chung:

Bà Lê Thị Tuyết khai không có, và không yêu cầu giải quyết, Hội đồng

xét xử không xét.

Về án phí:

Bà Lê Thị Tuyết là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải nộp án phí

theo quy định của khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của

Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý

và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39,

khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 264, Điều 266, Điều 267 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14

ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Tuyết;

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Tuyết được ly hôn với ông Vương

Minh Lâm.

- Về con chung: Không có, Tòa án không giải quyết.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự (nợ chung): Không có, Tòa án

không giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Lê Thị Tuyết phải nộp 300.000(ba trăm ngàn)đồng, được trừ vào tiền

tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2021/0038522 ngày 28 tháng 12 năm 2021 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lê Thị Tuyết đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày

kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ