- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Anh T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xác định cha cho con của anh Vũ Anh T.
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ---------------- Bản án số:784/2026/HNGĐ-ST Ngày: 04/08/2025 V/v: Xác định cha cho con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Tự Hiếu
Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thắm và bà Lê Thị Thu Hạnh
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên - Cán bộ Toà án nhân dân khu vực 11 – Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Phương - Kiểm sát viên
Ngày 04 tháng 08 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11- Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 618/2026/TLST-HNGĐ ngày 29/06/2026 về việc “Xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:378/2026/QĐXX ngày 24/07/2026, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Vũ Anh T, sinh năm 1983
Nơi thường trú và trú tại: Căn hộ B, chung cư H, phường C, TP. Hồ Chí Minh
(Anh T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)
* Bị đơn: Chị Đỗ Thị Huyền T1, sinh năm 1998
Nơi thường trú và trú tại: Thôn Đ, xã Q, huyện Thường Tín, TP. Hà Nội nay là xã T, TP. Hà Nội.
(Chị T1 vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Vũ Thanh B, sinh năm 1988
Nơi thường trú: Tập thể K, xã T, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội nay là xã Đ, TP. Hà Nội.
Hiện đang trú tại: Jungang-gil79, Uiseong-gun, Gyeongsangbuk-do, Hàn Quốc
(Anh B vắng mặt và có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt)
- Cháu bé sinh ngày 20/01/2024
Người đại diện hợp pháp cho cháu bé sinh ngày 20/01/2024 là chị Đỗ Thị Huyền T1
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn đề nghị xác định cha cho con và các lời khai tại Toà án, nguyên đơn là anh Vũ Anh T trình bày:
Tôi và chị Đỗ Thị Huyền T1 có quan hệ tình cảm. Tôi được biết chị T1 và anh Vũ Thanh B kết hôn ngày 03/04/2017. Đến tháng 8/2018, anh B đã sang Hàn Quốc sinh sống và làm việc, không về Việt Nam, không quan tâm đến vợ con, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Trong thời gian đó, tôi và chị T1 quan hệ tình cảm. Ngày 20/01/2024, chị T1 đã sinh 01 cháu bé giới tính nam theo Giấy chứng sinh số 29, quyển số 01, mã GCS.00029.GCS.01007.24 ngày 20/01/2024 của Bệnh viện E. Do cháu bé không phải là con đẻ của chị T1 và anh B, do đó tại Bản án số 472/2025/HNGĐ -ST ngày 17/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11- Hà Nội đã quyết định về con như sau: “Giao con chung là cháu Vũ Đức D, sinh ngày 08/08/2017 cho chị Đỗ Thị Huyền T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng kể từ tháng 12/2025 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị T1 không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh B cho đến khi chị T1 có yêu cầu hoặc khi có sự thay đổi khác. Anh B có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở”. Bản án không xác định cháu bé giới tính nam do chị T1 sinh ngày 20/01/2024 Giấy chứng sinh số 29, quyển số 01, mã GCS.00029.GCS.01007.24 ngày 20/01/2024 của Bệnh viện E là con chung của chị T1 và anh B vì cháu là con của tôi và chị T1
Tháng 3/2026, tôi đã yêu cầu phân tích ADN huyết thống cho tôi và cháu bé sinh ngày 20/01/2024. Theo kết quản xét ngiệm AND số KQ2603368.12 ngày 23/03/2026 của Phòng khám đa khoa Medlatec số 11- Cầu Giấy, Hà Nội kết luận: Tôi và cháu bé có quan hệ huyết thống cha- con trai.”
Nay tôi đề nghị Tòa án xác định tôi là cha đẻ của cháu bé sinh ngày 20/01/2024 theo quy định pháp luật.
* Bị đơn là chị Đỗ Thị Huyền T1 trình bày: Tôi và anh Vũ Thanh B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội ngày 03/04/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại: Tập thể Kim khí, xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội nay là xã Đại Thanh, TP. Hà Nội. Quá trình chung sống, vợ chồng sống không có hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống và bất đồng về cách nuôi dạy con cái. Việc vợ chồng mâu thuẫn, hai bên gia đình đã hòa giải, góp ý nhưng không có kết quả. Bản thân hai bên đã tìm cách khắc phục mâu thuẫn vợ chồng nhưng không giải quyết được mà càng trầm trọng. Đến tháng 8/2018, anh B đã sang Hàn Quốc sinh sống và làm việc, không về Việt Nam, không quan tâm đến vợ con, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay.
Trong thời gian đó, tôi và anh T có quan hệ tình cảm với nhau. Ngày 20/01/2024, tôi đã sinh 01 cháu bé giới tính nam theo Giấy chứng sinh số 29, quyển số 01, mã GCS.00029.GCS.01007.24 ngày 20/01/2024 của Bệnh viện E.
Năm 2025, tôi và anh B ly hôn tại Tòa án. Do cháu bé không phải là con đẻ giữa tôi và anh B nên Bản án số 472/2025/HNGĐ -ST ngày 17/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11- Hà Nội đã quyết định về con như sau: “Giao con chung là cháu Vũ Đức D, sinh ngày 08/08/2017 cho chị Đỗ Thị Huyền T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng kể từ tháng 12/2025 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị T1 không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh B cho đến khi chị T1 có yêu cầu hoặc khi có sự thay đổi khác. Anh B có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở”
Bản án không xác định cháu bé giới tính nam do tôi sinh ngày 20/01/2024 theo Giấy chứng sinh số 29, quyển số 01, mã GCS.00029.GCS.01007.24 ngày 20/01/2024 của Bệnh viện E là con chung của tôi và anh B vì cháu là con của tôi và anh T
Tháng 3/2026, anh T đã yêu cầu phân tích ADN huyết thống giữa anh T và cháu bé sinh ngày 20/01/2024. Theo kết quản xét ngiệm AND số KQ2603368.12 ngày 23/03/2026 của Phòng khám đa khoa Medlatec số 11- Cầu Giấy, Hà Nội kết luận: Anh T và cháu bé có quan hệ huyết thống cha- con trai.”
Để cháu bé sinh ngày 20/01/2024 được nhận bố đẻ của mình và được đăng ký khai sinh theo đúng quy định nên anh T đã có đơn đề nghị Tòa án xác định cha cho con, tôi cũng đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh T. Tôi đề nghị Tòa án giải quyết: Xác định anh Vũ Anh T là bố đẻ của cháu bé sinh ngày 20/01/2024.
* Người có quyền và nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Thanh B có bản tự khai với nội dung: Tôi và chị Đỗ Thị Huyền T1 kết hôn năm 2017. Quá trình chung sống chúng tôi sống không có hạnh phúc nên đã sống ly thân mỗi người một nơi từ năm 2018 đến nay. Trong thời gian sống ly thân với tôi, chị T1 có quan hệ tình cảm với anh Vũ Anh T và ngày 20/01/2024, chị T1 sinh cháu trai theo Giấy chứng sinh số 29, quyển số 01 tại Bệnh viện E.
Năm 2025, tôi và chị T1 giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân khu vực 11- Hà Nội. Cháu bé trai do chị T1 sinh ra ngày 20/01/2024 là con của chị T1 và anh T do đó trong Bản án số 472/2025/HNGĐ -ST ngày 17/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11- Hà Nội đã xác định chúng tôi có 01 con chung là cháu Vũ Đức D, sinh ngày 08/08/2017. Giao chị T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Dũng kể từ tháng 12/2025 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị T1 không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Nay anh T và chị T1 có đơn gửi Tòa án đề nghị xác định cháu trai do chị T1 sinh ra ngày 20/01/2024 theo Giấy chứng sinh số 29, quyển số 01 tại Bệnh viện E. Tôi đồng ý. Tôi xác định cháu bé trai do chị T1 sinh ra ngày 20/01/2024 theo Giấy chứng sinh số 29, quyển số 01 tại Bệnh viện E không phải là con chung của tôi và chị T1. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T1 và anh T. Xác định cháu bé trai sinh ngày 20/01/2024 là con đẻ của anh Vũ Anh T.
Do bận công việc ở xa nên tôi xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết, hòa giải, xét xử vụ án. Đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt tôi. Tôi ủy quyền cho chị Đỗ Thị Huyền T1 thay mặt tôi nhận các văn bản, tài liệu liên quan đến vụ việc này từ Tòa án
Tại phiên toà:
- Anh Vũ Anh T vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
- Chị Đỗ Thị Huyền T1 vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
- Anh Vũ Thanh B vắng mặt và có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, như sau:
- Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ thủ tục theo quy định của pháp luật.
- Đối với việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chấp hành, đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Về việc giải quyết vụ án: Chị Đỗ Thị Huyền T1 và anh Vũ Thanh B ly hôn theo Bản án số 472/2025/HNGĐ -ST ngày 17/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11- Hà Nội. Chị T1 và anh B có 01 con chung tên là cháu Vũ Đức D, sinh ngày 08/08/2017.
Trong thời gian sống ly thân với anh B, chị T1 có quan hệ tình cảm với anh Vũ Anh T. Ngày 20/01/2024, chị T1 sinh 01 cháu bé trai. Ngày 23/03/2026, anh T đi xét nghiệm AND tại Phòng khám đa khoa Medlatec số 11 và có kết luận: Anh Vũ Anh T và cháu bé sinh ngày 20/01/2024 có quan hệ huyết thống: Cha – con. Do đó anh T đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 11 – Hà Nội xác định anh Vũ Anh T là cha đẻ của cháu sinh ngày 20/01/2024
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 89 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, xử : Chấp nhận yêu cầu xác định cha cho con của anh Vũ Anh T. Xác định anh Vũ Anh T là cha đẻ của cháu bé sinh ngày 20/01/2024 theo theo Giấy chứng sinh số 29, quyển số 01, mã GCS.00029.GCS.01007.24 ngày 20/01/2024 của Bệnh viện E. Anh T không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:
Anh Vũ Anh T có đơn khởi kiện xác định cha cho con đối với chị Đỗ Thị Huyền T1 có nơi thường trú: tại Thôn Đức Trạch, xã Quất Động, huyện Thường Tín, TP. Hà Nội nay là xã Thượng Phúc, TP. Hà Nội. Toà án nhân dân khu vực 11- Hà Nội thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, anh T, chị T1 và anh B đều có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
* Về quan hệ tranh chấp: Chị Đỗ Thị Huyền T1 và anh Vũ Thanh B đăng ký kết hôn năm 2013 và có 01 con chung tên là cháu Vũ Đức D, sinh ngày 08/08/2017. Ngoài ra chị T1 và anh B không có con chung nào khác.
Tại Bản án số 472/2025/HNGĐ -ST ngày 17/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11- Hà Nội đã quyết định về con như sau: “Giao con chung là cháu Vũ Đức D, sinh ngày 08/08/2017 cho chị Đỗ Thị Huyền T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng kể từ tháng 12/2025 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị T1 không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh B cho đến khi chị T1 có yêu cầu hoặc khi có sự thay đổi khác. Anh B có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở”.
Trong thời gian sống ly thân với anh B, chị T1 và anh Vũ Anh T có quan hệ tình cảm, ngày 20/01/2024 chị T1 sinh 01 cháu bé trai tại Bệnh viện E. Trong thời gian quan hệ tình cảm với anh T, chị T1 và anh B chưa ly hôn, vì vậy cháu bé sinh ngày 20/01/2024 được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị T1 và anh B. Ngày 23/03/2026, Phòng khám đa khoa Medlatec số 11 có kết luận: Anh Vũ Anh T và cháu bé sinh ngày 20/01/2024 có quan hệ huyết thống: Cha – con.
Ngày 29/06/2026, Tòa án có công văn số 851/CV- TA về việc yêu cầu cung cấp thông tin và tài liệu liên quan kết quả phân tích AND gửi Công ty TNHH Medlatec Việt Nam. Ngày 22/07/2026, Phòng khám đa khoa Medlatec số 11 – Cầu Giấy- Hà Nội có công văn số 90/2026/CV-MCG phúc đáp với nội dung: Phòng khám đa khoa Medlatec số 11 Cầu Giấy, Hà Nội là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được Sở Y tế thành phố Hà Nội cấp Giấy phép hoạt động số 3066/HNO-GPHĐ/CL2 ngày 23/10/2025, tổng số danh mục kỹ thuật được phê duyệt thực hiện là 1.154 Danh mục chuyên môn kỹ thuật theo Quyết định số 2904/QĐ-SYT ngày 16/09/2024. Xét nghiệm AND là tên của dịch vụ y tế được Melatec thực hiện trên kỹ thuật chuyên môn “Xét nghiệm PCR” có mã số thứ tự 83 thuộc chương Giải phẫu bệnh – Tế bào học được Bộ Y tế ban hành ngày 11/12/2013 tại Thông tư số 43/2013/TT- BYT về quy định chi tiết phân tuyến chuyên môn kỹ thuật đối với hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Do đó anh Vũ Anh T có đơn đề nghị Tòa án xác định anh là cha đẻ của cháu bé sinh ngày 20/01/2024 là phù hợp với với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định anh Vũ Anh T là cha đẻ của cháu bé sinh ngày 20/01/2024 theo quy định tại Điều 89 và Điều 91 Luật hôn nhân và gia đình.
Cháu bé sinh ngày 20/01/2024 được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị Đỗ Thị Huyền T1 và anh Vũ Thanh B nên Tòa án đưa anh B tham tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp với Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình.
Về án phí: Anh T không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 4 Điều 28, Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ Điều 88, Điều 89, Điều 91, Điều 101 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
- Căn cứ Điều 39 Bộ luật dân sự.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu xác định cha cho con của anh Vũ Anh T.
Xác định anh Vũ Anh T là cha đẻ của cháu bé sinh ngày 20/01/2024 theo theo Giấy chứng sinh số 29, quyển số 01, mã GCS.00029.GCS.01007.24 ngày 20/01/2024 của Bệnh viện E
2. Anh Vũ Anh T và chị Đỗ Thị Huyền T1 và có quyền liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về hộ tịch để làm thủ tục khai sinh cho cháu bé sinh ngày 20/01/2024 theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Anh Vũ Anh T không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm
Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội - VKSND khu vực 11- Hà Nội - Phòng THADS khu vực 11- Hà Nội - Các đương sự - Lưu hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Tự Hiếu |