- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy K - Trộm cắp tài sản - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy K phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2026/HS-ST Ngày: 29/5/2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Trường Giang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1, Ông: Nguyễn Trọng Biên
2, Bà: Lê Thị Thuỷ
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Văn Đình Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5- Nghệ An.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2026/TLST-HS, ngày 20 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2026/QĐXXST- HS, ngày 08 tháng 5 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 20/QĐHS-ST ngày 20 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Duy K; Tên gọi khác: Không, sinh ngày 20 tháng 10 năm 2007, tại xã B, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm P, xã B, tỉnh Nghệ An; Số Căn cước công dân: 040207008698; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông: Nguyễn Duy V, con bà Phan Thị L; vợ con: Chưa có. Tiền án, tiền sự : Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Bà Trần Thị H, sinh năm 1959. Địa chỉ: xóm P, xã B, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên toà có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm như sau:
Chiều ngày 21/12/2026, Nguyễn Duy K đi ngang qua ki ốt bán hàng tạp hoá của bà Trần Thị H, sinh năm 1959 thuộc xóm T, xã B, tỉnh Nghệ An và nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu xài. Khoảng 18 giờ 15 phút cùng ngày. K đi bộ từ nhà mình đến ki ốt bán hàng tạp hoá của bà H. Sau khi quan sát thấy ki ốt đã đóng cửa, K đi bộ ra phía sau và phát hiện lối thông gió tại phòng bếp đã bị bục nát tạo ra một lỗ hổng đủ để chui vào, quan sát xung quanh thấy vắng người nên K đã lén lút chui vào từ đó rồi đi vào trong quán. Sau đó K tìm kiếm tài sản và phát hiện trong tủ quần áo dưới ti vi ở phòng ngủ 01 dây chuyền bằng kim loại màu vàng nên K lấy trộm sợi dây chuyền và mở cửa sau đi về nhà. Đến ngày 23/12/2025, K được Công an xã B mời ra làm việc, biết không thể che dấu hành vi phạm tội nên K đã đầu thú, khai nhận hành vi trộm cắp, giao nộp 01 dây chuyền đã trộm cắp.
Tại Bản kết luận giám định số 120/KL-KL-KTHS ngày 08/01/2026 của Phòng K1 - Bộ C, xác định “ 01 dây chuyền kim loại màu vàng chế tác dạng các mắt xích nối với nhau, mắt xích đầu gắn liền với móc khoá có chữ KL, mắt xích cuối có chữ VT, móc khoá dây chuyền có chữ KLVT-HUY gửi tới giám định có tổng khối lượng là 11,24 gam là vàng (A), hàm lượng Au trung bình 99,93%”
Bản kết luận định giá tài sản số 199/KL-HĐĐGTS, ngày 02/02/2026 của Hội đồng định gía tài sản Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Nghệ An kết luận: “01 dây chuyền kim loại màu vàng chế tác dạng các mắt xích nối với nhau, mắt xích đầu gắn liền với móc khoá có chữ KL, mắt xích cuối có chữ VT, móc khoá dây chuyền có chữ KLVT-HUY gửi tới giám định có tổng khối lượng là 11,24 gam là vàng (Au), hàm lượng Au trung bình 99,93% tại thời điểm ngày 21/12/2025 có giá trị là 42.000.000 đồng)”.
Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKS-KV5 ngày 17/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Nghệ An đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy K về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Nghệ An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Duy K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm b, s, i, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Duy K từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú, giám sát, quản lý và giáo dục trong thời gian thử thách.
Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có tranh luận gì. Chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về trình tự, thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo không có khiếu nại gì về các hoạt động tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên cho nên khẳng định trong quá trình điều tra, truy tố, các biện pháp, hành vi và quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều tuân theo đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Nghệ An đã truy tố. Lời nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với kết quả định giá, phù hợp với kết luận giám định, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 21/12/2025, tại ki ốt bán hàng tạp hoá của bà Trần Thị H ở xóm T, xã B, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Duy K đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của bà Trần Thị H 01 sợi dây chuyền vàng có khối lượng 11.24 gam trị giá 42.000.000 đồng.
Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó đã gây tâm lý hoang mạng, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng nhừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ sau: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã đầu thú. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay thật thà khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Sau khi đầu thú đã khắc phục hậu quả bằng cách giao nộp lại tài sản đã trộm cắp cho bị hại, trong quá trình điều tra cũng như tại đơn xin xử vắng mặt bị hại đều có yêu cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Cho nên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Cho nên không cần thiết phải lên mức án tù giam mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú, quản lý, giáo dục cũng đủ điều kiện để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Về trách nhiện dân sự. Trong quá trình điều tra bị hại không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm b, s, i, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy K phạm tội Trộm cắp tài sản.
Xử phạt Nguyễn Duy K 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 (ba mươi) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Nghệ An quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên không xem xét.
5. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Nghệ An; - VKS Khu vực 5 – Nghệ An; - VKS tỉnh Nghệ An - Cơ quan Điều tra Công an tỉnh NA; - Cơ quan Thi hành án Hình sự tỉnh NA; - Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An; - Bị cáo, - Bị hại - UBND xã Bích Hào, tỉnh Nghệ An - Lưu hồ sơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Trường Giang |