- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Anh T - cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2026/HS-ST Ngày 26-3-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Bích Thủy
Bà Hà Thị Mão
- Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Khắc Huy- Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3- Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3- Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trần Thành Đạt- Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3- Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 63/2026/HSST ngày 09 tháng 3 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2026/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:
Trịnh Anh T, sinh ngày 09 tháng 9 năm 1985 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số B B, phường H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Bá T1 và bà Nguyễn Thị T2; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giam từ ngày 12/11/2025; có mặt.
- Bị hại: Ông Trần Duy C, sinh năm 1950; nơi cư trú: Số B H, phường H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 10 phút ngày 02/10/2025, Trịnh Anh T mang theo một bình ắc quy từ nhà đi qua đường ray tàu hỏa khu vực trước cửa quán C1 ở số B H, phường H, Hải Phòng (chủ quán là ông Trần Duy C). T ném bình ắc quy về phía ông C đang đứng gần chiếc xe đẩy bán cà phê trước cửa quán, nhưng không trúng. T tiếp tục xô đổ xe bán cà phê rồi quay lại đường H. Do bực tức vì T vô cớ tấn công nên ông C chạy vào trong nhà lấy 01 thanh kim loại hình trụ, dài khoảng 1,05m đuổi theo để yêu cầu T đứng lại giải quyết. Khi gần đến chỗ T thì ông C bị vấp ngã, thanh kim loại văng ra khỏi tay. T quay lại nhặt được thanh kim loại trên, vụt liên tiếp 04 nhát trúng vào vùng tay và người ông C. Khi mọi người chạy đến can ngăn thì T ném thanh kim loại ra lòng đường rồi chạy về nhà, còn ông C được đưa đi Bệnh viện H cấp cứu.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 771/2025/KLTTCT-TTPYHP ngày 06/11/2025 của Trung tâm P, kết luận:
+ Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Duy C tại thời điểm giám định là 03%, trong đó:
Tỷ lệ phần trăm tổn thương do sẹo vết thương liền vết phẫu thuật gan bàn tay trái gây nên là 03%.
Riêng tổn thương gân, ròng rọc tại thương bàn tay trái chưa hoàn toàn ổn định, còn trong giai đoạn phục hồi nên chưa đánh giá chính xác tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Đề nghị sau 2-3 tháng giám định bổ sung thương tích này.
+ Kết luận khác: Thương tích trên có đặc điểm do vật có góc cạnh cứng, có thể tương đối sắc tác động trực tiếp gây nên.
Tại Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 981/2025/KLTTCT-TTPYHP ngày 07/01/2026 của Trung tâm P, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Duy C tại thời điểm giám định là 03%. Riêng tổn thương gân, ròng rọc tại thương bàn tay trái chỉ gây hạn chế động tác gấp ngón III, IV bàn tay trái thì không có hướng dẫn tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể nên không có đánh giá tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của tổn thương này.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã tiến hành thu giữ:
- 01 thanh kim loại hình trụ, dài khoảng 1,05m, đường kính 04cm;
- 01 bình ắc quy màu đen có kích thước 20cm x 10cm x 10cm;
- 02 đĩa DVD nhãn hiệu Maxell, dữ liệu bên trong gồm 02 đoạn video trích xuất từ camera an ninh nhà dân tại hiện trường, ghi nhận diễn biến vụ việc, ký hiệu mẫu giám định ký hiệu A1, A2.
Tại Kết luận giám định 3615/KL-KTHS ngày 24/11/2025 của phòng K-Công an thành phố H, kết luận đối với 02 đoạn video thu giữ nêu trên, xác định: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép chỉnh sửa nội dung, trích xuất 15 hình ảnh liên quan đến vụ việc được lập thành bản ảnh kèm theo.
Kết quả xác minh tại nơi Trịnh Anh T sinh sống xác định: Trịnh Anh T là đối tượng trong diện quản lý “loạn thần, ngáo đá”, thường xuyên có các hành vi gây mất an ninh trật tự, ảnh hưởng xấu tới an ninh trật tự tại địa phương. Năm 2019, Trịnh Anh T được Bệnh viện T3 chuẩn đoán và điều trị bệnh rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất gây ảo giác. Năm 2023, Trịnh Anh T đi cai nghiện ma túy tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện ma túy G.
Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 100/KLGĐ ngày 10/11/2025 của Trung tâm P1 khu vực miền núi phía Bắc, kết luận:
+ Tại thời điểm thực hiện hành vi Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác ngày 02/10/2025, Trịnh Anh T không bị bệnh tâm thần, Trịnh Anh T đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.
+ Hiện tại (tại thời điểm giám định) Trịnh Anh T không bị bệnh tâm thần, Trịnh Anh T đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.
Tại Cáo trạng số 138/CT-VKSKV3 ngày 06/3/2026, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3, Hải Phòng truy tố bị cáo Trịnh Anh T về tội Cố ý gây thương tích theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3- Hải Phòng luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i khoản 1 Điều 52; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 21 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 thanh kim loại, 01 bình ắc quy thu giữ trong vụ án.
- Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3- Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 10 phút ngày 02/10/2025, tại số B H, phường H, Hải Phòng, bị cáo Trịnh Anh T đã có hành vi dùng 01 thanh kim loại vụt 04 nhát vào vùng tay và người ông Trần Duy C. Hậu quả ông C bị tổn thương cơ thể 03%. Mặc dù tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại dưới 11%. Tuy nhiên, bị cáo dùng 01 thanh kim loại hình trụ, dài khoảng 1,05m để gây thương tích cho bị hại, được coi là “dùng hung khí nguy hiểm”. Bị cáo vô cớ gây thương tích cho bị hại nên hành vi của bị cáo “có tính chất côn đồ”. Mặt khác, bị hại có đơn đề nghị khởi tố vụ án hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của người khác, gây mất trật tự, trị an ở địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt:
Xét về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng trong diện quản lý “loạn thần, ngáo đá”, thường xuyên có các hành vi gây mất an ninh trật tự, ảnh hưởng xấu tới an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần đánh giá bị cáo có nhân thân không tốt.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại thời điểm bị xâm hại, bị hại trên 70 tuổi, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên” theo điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xét cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng với bị cáo là nặng, chưa phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử xét áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo thấp hơn mức Kiểm sát viên đề nghị.
- Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên hội đồng xét xử không xét.
- Về xử lý vật chứng:
Xét 01 thanh kim loại, 01 bình ắc quy, không có giá trị, nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về án phí:
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i khoản 1 Điều 52; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trịnh Anh T.
- Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Anh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Xử phạt: Bị cáo Trịnh Anh T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 12/11/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu hủy:
- 01 thanh kim loại hình trụ, dài khoảng 1,05m, đường kính 04cm;
- 01 bình ắc quy màu đen có kích thước 20cm x 10cm x 10cm
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/3/2026 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3- Hải Phòng).
2. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q, bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - VKSND khu vực 3- Hải Phòng; - VKSND TP. Hải Phòng; - TAND TP. Hải Phòng; - CQCSĐT- Công an thành phố Hải Phòng; - CQTHAHS- Công an thành phố Hải Phòng; - Công an thành phố Hải Phòng; - Trại tạm giam số 1- Công an TP. Hải Phòng; - Thi hành án dân sự TP. Hải Phòng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Thủy THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Thuỷ |