vanban.org

Bản án 78/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 10/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thúy Q phạm tội “Môi giới mại dâm”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thúy Q 10 (Mười) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 20 (Hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Q cho UBND phường Cự Khối, quận Long Biên, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Môi giới mại dâm - phạm tội môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thúy Q phạm tội “Môi giới mại dâm”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số Quy đ…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2025/HSST
Ngày: 10/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Xuân Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Hải

Ông Phạm Văn Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Yến – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Long Biên

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên tòa: Ông Dương Bá Thành Luân - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 59/2025/TLST - HS ngày 24 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2025/QĐXXST-HS ngày 25/3/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Thúy Q, sinh năm 1999; Giới tính: Nữ; HKTT: xã Đức Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam; Nơi ở hiện tại: Tổ 11 phường Cự Khối, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Văn hóa: 08/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Quang N, sinh năm 1970; Con bà: Vũ Thị T, sinh năm 1974; Có 01 con sinh năm 2018; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; TATS: Theo lý lịch địa phương cung cấp và danh chỉ bản số 660 lập ngày 27/12/2024 tại Công an quận Long Biên xác định bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/12/2024 đến ngày 27/12/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Đỗ Văn T, sinh năm 1991; Địa chỉ: tổ 36 phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)

2. Anh Bùi Đức C, sinh năm 1987; HKTT: Tổ 2 phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Tổ 10 phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)

3. Chị Vi Thị T, sinh năm 2004; Địa chỉ: thị trấn Yên Sơn, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ ngày 18/12/2024, Công an phường Ngọc Thụy - Công an quận Long Biên tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà số 2/8/97 Ngọc Thụy, phường Ngọc Thụy, Q. Long Biên, TP. Hà Nội là căn nhà cho thuê theo diện Homestay phát hiện tại căn phòng có tên DEER có các đối tượng Đỗ Văn T (Sinh năm: 1991, trú tại: phường Ngọc Thụy, Q. Long Biên, TP. Hà Nội), Nguyễn Thị Thúy Q (Sinh năm: 1999, trú tại: Đức Lý, Lý Nhân, Hà Nam) và căn phòng có tên FOX có các đối tượng Bùi Đức C (Sinh năm: 1987, trú tại: phường Ngọc Lâm, Q. Long Biên, TP. Hà Nội), Vi Thị T (Sinh năm: 2004, trú tại: Yên Sơn, Yên Sơn, Tuyên Quang) đang thực hiện hành vi mua, bán dâm. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản vụ việc, thu giữ các dồ vật, tài liệu có liên quan và đưa các đối tượng về trụ sở Công an phường Ngọc Thụy để xác minh làm rõ. Cơ quan công an đã thu giữ những đồ vật, tài sản như sau:

* Tại phòng DEER nơi phát hiện Đỗ Văn T, Nguyễn Thị Thúy Q thu giữ:

- Số tiền 6.000.000₫ (Sáu triệu đồng).

- 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu OPPO A53 của Đỗ Văn T.

- 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 11 Promax của Nguyễn Thị Thúy Q.

- 01 bao cao su dã qua sử dụng.

Tại phòng FOX nơi phát hiện Bùi Đức C, Vì Thị Thái thu giữ:

- Số tiền 5.000.000₫ (Năm triệu đồng).

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax của Vi Thị T.

- 01 bao cao su đã qua sử dụng.

Nguyễn Thị Thúy Q đã tự giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 1.000.000₫ (Một triệu đồng) mà Q đã nhận từ T là tiền đi lại phục vụ cho việc mua, bán dâm. Quá trình điều tra xác định: Vào chiều ngày 18/12/2024, do có nhu cầu mua dâm nên Đỗ Văn T và Bùi Đức C rủ nhau đi mua dâm. T đã liên hệ với Nguyễn Thị Thúy Q để hẹn Q đến bản dâm cho T. T nói với Q về việc có đi cùng với một người bạn. Q nói với T có thể gọi thêm một người nữa đến để bản dâm cho bạn của T. T đồng ý. Q nói với T phải đưa số tổng cộng số tiền là 12.000.000₫ (mười hai triệu đồng) trong đó 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) là tiền để T mua dâm Q, 3.000.000d (Ba triệu đồng) là tiền công để Q rủ thêm người đến bản dâm, 5.000.000₫ (Năm triệu đồng) là tiền trả cho bạn của Q đến bản dâm và 1.000.000₫ chuyển trước cho Q là tiền đi lại. T đồng ý. Chiến đưa cho T số tiền 5.000.000 đồng để trả tiền mua dâm. T lên trên mạng tìm và thuê phòng tại căn Homestay có địa chỉ số 2/8/97 Ngọc Thụy, phường Ngọc Thụy, Long Biên, Hà Nội, thuê hai phòng có tên DEER và FOX để chờ mua dâm. T chuyển cho Quỷnh trước số tiền 1.000.000₫ (Một triệu đồng) tiền đi lại qua tài khoản ngân hàng 2905205293656 của ngân hàng Agirbank mang tên Nguyễn Thị Thúy Q và nhắn tin gửi vị trí phòng đã thuê cho Q. Đến khoảng 21 giờ 40 cùng ngày, Q cùng Vi Thị T đến địa điểm bán dâm. Tại đây, T có đưa cho Q số tiền 6.000.000₫ (Sáu triệu đồng) và đưa cho Thái số tiền 5.000.000d (Năm triệu đồng). Sau đó T và Q thực hiện hành vi mua, bán dâm tại phòng DEER còn Chiến và Thái thực hiện hành vi mua, bán dâm tại phòng FOX của homestay. Đến 22 giờ 10 cùng ngày, tổ công tác Công an phường Ngọc Thụy tiến hành kiểm tra hành chính căn nhà homestay trên phát hiện các đối tượng đang thực hiện hành vi mua, bán dâm.

Tại Cơ quan công an, bị cáo Nguyễn Thị Thúy Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như sau: Nguyễn Thị Thúy Q quen biết với Đỗ Vân T và Vi Thị T từ trước thông qua mạng xã hội. Khi biết T có nhu cầu muốn mua dâm và nói có người bạn đi cùng, Q đã sử dụng tài khoản Facebook nhắn tin cho Vi Thị T để rủ Thái đi bán dâm cùng Q. Khi được Thái đồng ý việc đi bán dâm, Q đã thỏa thuận với Thái giá bán dâm của Thái là 5.000.000₫ (Năm triệu đồng) sau đó thông báo lại cho T biết. Sau khi được T đưa tiền mua dâm cho cả Q và Thái, các đối tượng về phòng để bán dâm thì bị Cơ quan công an phát hiện. Lời khai của bị cáo Nguyễn Thị Thúy Q phù hợp với lời khai của Vi Thị T và các tài liệu trong hồ sơ.

Đối với hành vi bán dâm của Nguyễn Thị Thúy Q, Vi Thị T đã vì phạm quy định tại Khoản 1 Điều 25 Nghị định 144/2021/ND-CP của Chính phủ: hành vi mua dâm của Đỗ Văn T và Bùi Đức C đã vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều 24 Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ, Công an quận Long Biên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thị Thúy Q, Vi Thị T, Đỗ Văn T và Bùi Đức C là có căn cứ pháp luật.

Đối với cơ sở homestay July's House tại địa chỉ số 2/8/97 Ngọc Thụy phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, TP Hà Nội, Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với ông Nguyễn Sỹ Long (sinh năm 1970, trú tại: số 15 ngách 36 Xã Dân 2, Nam Đồng, Đống Đa, Hà Nội, chủ cơ sở), bà Nguyễn Hồng Dung (Sinh năm: 1972, trú tại: phường Láng Hạ, Đống Đa, Hà Nội, là quản lý cơ sở), chị Phạm Thị Huế (Sinh năm: 2001, trú tại: An Dương, Tây Hồ, Hà Nội, nhân viên phụ trách tiếp nhận khách hàng), chị Lèo Thị Tình (Sinh năm: 1993, trú tại: phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, TP Hà Nội, nhân viên phụ trách lễ tân) xác định không có quan hệ quen biết với các đối tượng liên quan trong việc mua, bán dâm, không biết hoạt động mua bán dâm xảy ra tại cơ sở. Quá trình vận hành nhà nghỉ, cơ sở có đầy đủ giấy phép hoạt động, có quy trình trong việc kiểm soát nhân thân khách thuê phòng, phổ biến quy định của cơ sở và yêu cầu khách chấp hành các quy định của pháp luật trước khi thuê phòng. Do đó Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm đối với cơ sở homestay July's House.

Đối với số tiền 12.000.000₫ (Mười hai triệu đồng), 02 bao cao su đã qua sử dụng, 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 11 Promax đã qua sử dụng, 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 14 Promax đã qua sử dụng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng là các vật chứng của vụ án, chuyển Tòa án nhân dân quận Long Biên giải quyết theo thẩm quyền.

Tại phiên tòa bị cáo Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo theo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố.

Bản cáo trạng số: 50/CT-VKS ngày 17/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố Nguyễn Thị Thúy Q về tội: “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 của Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thấy rằng: Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Thúy Q đã đủ yếu tố cấu thành tội Môi giới mại dâm theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về hình phạt đề nghị:

Căn cứ khoản 1 điều 328 ; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS 2015

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thúy Q 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 18 đến 24 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS năm 2015.

- Đề nghị tịch thu, sung quỹ nhà nước số tiền 7.000.000₫ (Bảy triệu đồng) thu giữ của Nguyễn Thị Thúy Q, số tiền 5.000.000₫ (Năm triệu đồng) thu giữ của Vi Thị T. Tổng 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng)

- Đề nghị tịch thu, sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu OPPO A53 của Đỗ Văn T; 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 11 Promax của Nguyễn Thị Thúy Q; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax của Vi Thị T.

- Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 02 bao cao su đã qua sử dụng.

Nói lời sau cùng,bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình là sai, vi phạm pháp luật. Mong HĐXX cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo và xuất trình các tài liệu chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu; lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 22 giờ ngày 18/12/2024, tại cơ sở homestay July's House tại địa chỉ số 2/8/97 Ngọc Thụy, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, TP Hà Nội, Nguyễn Thị Thúy Q đã có hành vi rủ rê, dẫn dắt Vi Thị T bán dâm cho Bùi Đức C nhằm mục đích hưởng lợi số tiền công là 3.000.000₫ (Ba triệu đồng).

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Thúy Q đã cấu thành tội Môi giới mại dâm. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 328 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội: “Môi giới mại dâm” theo Khoản 1 Điều 328 là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, xâm phạm đến đạo đức xã hội, nếp sống văn minh xã hội, sức khỏe người khác và là nguyên nhân lan truyền các bệnh nguy hiểm cho nhiều người được bộ luật hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Về tình tiết tăng nặng TNHS đối với bị cáo: Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Vì vậy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo: Khi lượng hình HĐXX cũng xem xét: tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là lao động chính và là người trực tiếp nuôi dương, chăm sóc con là các tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015.

Xét về hành vi, tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm của bị cáo có mức độ, bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS, có nơi cư trú rõ ràng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là lao động chính và là người trực tiếp nuôi dương, chăm sóc con. Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo có hiệu lực kể từ ngày 10/5/2022 thì bị cáo có đủ điều kiện để hưởng án treo nên HĐXX để bị cáo được hưởng án treo, cho cải tạo bên ngoài xã hội cũng như đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Đại diện VKS đề nghị mức hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX.

Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có việc làm và thu nhập nên không áp dụng.

Đại diện VKS đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX.

Về xử lý vật chứng:

- Cho tịch thu, sung quỹ nhà nước số tiền 7.000.000₫ (Bảy triệu đồng) thu giữ của Nguyễn Thị Thúy Q, số tiền 5.000.000₫ (Năm triệu đồng) thu giữ của Vi Thị T. Tổng 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng)

- Cho tịch thu, sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu OPPO A53 của Đỗ Văn T; 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 11 Promax của Nguyễn Thị Thúy Q; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax của Vi Thị T.

- Cho tịch thu, tiêu hủy 02 bao cao su dã qua sử dụng.

(Tang vật trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/3/2025 và giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 14/01/2025)

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý về vật chứng phù hợp với nhận định của HĐXX.

Các vấn đề khác:

- Đối với hành vi bán dâm của Nguyễn Thị Thúy Q, Vi Thị T đã vì phạm quy định tại Khoản 1 Điều 25 Nghị định 144/2021/ND-CP của Chính phủ: hành vi mua dâm của Đỗ Văn T và Bùi Đức C đã vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều 24 Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ, Công an quận Long Biên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thị Thúy Q, Vi Thị T, Đỗ Văn T và Bùi Đức C là có căn cứ pháp luật.

- Đối với cơ sở homestay July's House tại địa chỉ số 2/8/97 Ngọc Thụy phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, TP Hà Nội, Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với ông Nguyễn Sỹ Long, bà Nguyễn Hồng Dung, chị Phạm Thị Huế, chị Lèo Thị Tình (nhân viên phụ trách lễ tân) xác định không có quan hệ quen biết với các đối tượng liên quan trong việc mua, bán dâm, không biết hoạt động mua bán dâm xảy ra tại cơ sở. Quá trình vận hành nhà nghỉ, cơ sở có đầy đủ giấy phép hoạt động, có quy trình trong việc kiểm soát nhân thân khách thuê phòng, phổ biến quy định của cơ sở và yêu cầu khách chấp hành các quy định của pháp luật trước khi thuê phòng. Do đó Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm đối với cơ sở homestay July's House là có căn cứ.

Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo:

Bị cáo và người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 điều 328 ; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thúy Q phạm tội “Môi giới mại dâm”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thúy Q 10 (Mười) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 20 (Hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Q cho UBND phường Cự Khối, quận Long Biên, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

- Cho tịch thu, sung quỹ nhà nước số tiền 7.000.000₫ (Bảy triệu đồng) thu giữ của Nguyễn Thị Thúy Q, số tiền 5.000.000₫ (Năm triệu đồng) thu giữ của Vi Thị T. Tổng 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng)

- Cho tịch thu, sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu OPPO A53 của Đỗ Văn T; 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 11 Promax của Nguyễn Thị Thúy Q; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax của Vi Thị T.

- Cho tịch thu, tiêu hủy 02 bao cao su dã qua sử dụng.

(Tang vật trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/3/2025 và giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 14/01/2025)

3. Án phí : Căn cứ Điều 136 bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ