vanban.org

Bản án 78/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Quảng Trị Tuyên án 08/08/2025 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Trương Công Đ được ly hôn chị Souphaphone.

Về quan hệ con chung: Giao cháu Trương Quốc V, sinh ngày 01/01/2015, cho anh Trương Công Đ chăm sóc, nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Trương Công Đ xin ly hôn chị Souphaphone"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Trương Công Đ được ly hôn chị Souphaphone.
  • Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và Gia đình Luật hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình Luật hôn nhân và gia đình; Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình Luật hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2025/HNGĐ-ST
Ngày 08/8/2025
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Tình và bà Nguyễn Thị Hòe

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Thúy – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 33/2025/TLST-HNGĐ ngày 19/02/2025 về việc “Ly hôn” theo quyết Đ đưa vụ án ra xét xử số 45/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/7/2025 và Quyết Đ hoãn phiên tòa số 111/2025/QĐ-ST ngày 22/7/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Trương Công Đ, sinh năm 1988, địa chỉ: Thôn X, xã X, huyện L, tỉnh Quảng Bình (nay là thôn X, xã L, tỉnh Quảng Trị). Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Souphaphone, sinh ngày 25/4/1977, địa chỉ: bản N, huyện X, Viêng Chăn, Lào. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nguyên đơn anh Trương Công Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: anh và chị Souphaphone tìm hiểu và kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 19/5/2015 tại Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Bình (nay là UBND tỉnh Quảng Trị). Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) được một thời gian thì chị Souphaphone trở về Lào. Từ đó đến nay, chị Souphaphone không liên lạc, không hỏi thăm, quan tâm đến chồng con. Anh Đ có cố gắng tìm cách liên lạc với chị Souphaphone nhưng không được. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh và kéo dài không có khả năng khắc phục. Nguyên nhân là do khoảng cách về địa lý nên vợ chồng thiếu sự quan tâm chia sẻ cho nhau. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, anh Đ đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Souphaphone.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên là Trương Quốc V, sinh ngày 01/01/2015, từ khi chị Souphaphone bỏ về Lào cho đến nay con chung sống cùng anh Đ và được anh Đ chăm sóc, nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Hiện nay vì điều kiện kinh tế gia đình nên anh Đ phải đi làm ăn xa và đã giao con cho bố của anh Đ là ông Trương Anh Đ, sinh năm 1954 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Khi nào về anh Đ sẽ đón con về nuôi dưỡng. Anh Đ không yêu cầu chị Souphaphone phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Anh Trương Công Đ trình bày vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

Ông Trương Anh Đ, sinh năm 1954, là bố ruột của nguyên đơn Trương Công Đ trình bày: Anh Trương Công Đ và chị Souphaphone có 01 con chung là cháu Trương Quốc V, sinh ngày 01/01/2015, từ khi chị Souphaphone bỏ về Lào cho đến nay cháu sống cùng ông và anh Đ. Hiện tại anh Đ đi làm ăn xa, giao cháu Việt lại cho ông chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông cam đoan chăm sóc nuôi dưỡng cháu một cách chu đáo, đảm bảo cho cháu luôn khoẻ mạnh, trưởng thành.

Về phía bị đơn chị Souphaphone thì sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ủy thác tư pháp thông qua Bộ Tư pháp để tống đạt các văn bản tố tụng và thu thập lời khai đối với chị Souphaphone. Tại Công văn số 1334/CH – BTP ngày 19/5/2025 của Bộ tư pháp về việc ủy thác đến Bộ tư pháp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào để tống đạt giấy tờ đối với chị Souphaphone nhưng đến nay không thu được kết quả.

Tòa án đã làm thủ tục đăng tin thông báo về việc giải quyết ly hôn giữa anh Trương Công Đ và chị Souphaphone trên kênh hệ phát thanh đối ngoại quốc gia Đài tiếng nói Việt Nam VOV5. Ngày 25/6/2025, Hệ phát thanh đối ngoại quốc gia Đài tiếng nói Việt Nam đã gửi cho Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị) tài liệu về việc đã thông báo trên kênh thông tin dành cho người nước ngoài các nội dung liên quan đến việc giải quyết vụ án ly hôn giữa anh Trương Công Đ và chị Souphaphone, phát vào ngày 25, 26, 27/6/2025.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng các quy Đ của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ, đương sự tham gia tố tụng thực hiện đúng quy Đ, đảm bảo quyền lợi nghĩa vụ của họ. Về nội dung: Đề nghị xử cho anh Trương Công Đ và chị Souphaphone được ly hôn. Giao cháu Trương Quốc Việt, sinh ngày 01/01/2015, cho anh Trương Công Đ chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Trương Công Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác theo quy Đ của pháp luật.

NHẬN Đ CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận Đ:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ở Quảng Trị yêu cầu ly hôn với người có quốc tịch Lào; đây là vụ kiện tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị, theo quy Đ tại khoản 1 Điều 28 khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39 ; Điều 464, Điều 469 khoản 3 Điều 474 của Bộ tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa chị Souphaphone vắng mặt lần thứ hai. Căn cứ vào khoản 5 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Souphaphone. Sau khi làm đơn xin ly hôn và các thủ tục liên quan nộp trực tiếp tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị), anh Trương Công Đ đi làm ăn xa và có Bản tự khai giữ nguyên quan điểm như trong đơn ly hôn và xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy Đ tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Xét thấy, anh Trương Công Đ và chị Souphaphone kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 19/5/2015 tại Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Bình (nay là UBND tỉnh Quảng Trị). Do đó, hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Theo lời khai của anh Đ, vợ chồng chung sống được một thời gian thì chị Souphaphone bỏ về Lào từ tháng 6/2015, từ đó đến nay không quay lại, không liên lạc gì với chồng con. Bản thân anh Đ tìm cách liên lạc nhưng không có kết quả. Đời sống hôn nhân thực tế không tồn tại. Nay anh Trương Công Đ xác Đ không còn tình cảm, cuộc sống chung thực tế không có và vợ chồng không còn cơ hội đoàn tụ nên muốn ly hôn với chị Souphaphone.

Xét tình nghĩa vợ chồng phải xuất phát từ cả hai phía có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng và cùng có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ. Nhưng thực tế hai bên đã không còn sống chung, không liên lạc với nhau, không có thông tin về nhau. Điều này thể hiện mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Trương Công Đ.

[2.2] Về quan hệ con chung: Anh chị có một con chung tên là Trương Quốc Việt, sinh ngày 01/01/2015, Sau khi chị Souphaphone bỏ về Lào, cháu Việt sống với anh Đ và ông nội. Cháu Việt có bản trình bày nguyện vọng được sống với ba sau khi ba mẹ ly hôn. Hiện anh Đ đang đi làm ăn xa nên tạm giao cháu V cho bố đẻ của anh là ông Trương Anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Đ cam đoan đủ điều kiện để chăm sóc và nuôi dưỡng cháu V. Do đó, cần giao cháu Trương Quốc V, sinh ngày 01/01/2015, cho anh Trương Công Đ chăm sóc, nuôi dưỡng, là có căn cứ.

[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung:

Quá trình giải quyết vụ án anh Đ trình bày vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí, lệ phí ủy thác ra nước ngoài: Anh Trương Công Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, lệ phí ủy thác tư pháp theo quy Đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ:

Căn cứ Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39, Điều 464, Điều 469 khoản 5 Điều 477, Điều 479 của Bộ tố tụng dân sự.

Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 123,127 của Luật Hôn nhân và Gia đình Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy Đ về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Trương Công Đ được ly hôn chị Souphaphone.

2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Trương Quốc V, sinh ngày 01/01/2015, cho anh Trương Công Đ chăm sóc, nuôi dưỡng.

Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền thăm nom và chăm sóc con chung. Trong trường hợp vì quyền lợi chính đáng của con chưa thành niên, các bên đều có quyền làm đơn yêu cầu thay đ i người trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

3. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Trương Công Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí đã nộp tại biên lai số 0005278 ngày 19/02/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị) và phải chịu 200.000 đồng lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, được khấu trừ vào số tiền 200.000 đồng tạm ứng án phí, lệ phí đã nộp tại biên lai số 0005277 ngày 19/02/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị).

5. Về chi phí tố tụng: Anh Trương Công Đ phải chịu 8.250.000 đồng chi phí tố tụng (bao gồm chi phí dịch thuật 5.500.000 đồng và 2.750.000 đồng tiền chi phí đăng VOV). Số tiền này anh Đ đã nộp đủ và chi phí hết.

6. Án sơ thẩm xử công khai, anh Trương Công Đ có quyền kháng cáo trong hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; chị Souphaphone có quyền kháng cáo trong hạn 12 tháng kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ