- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nhân - Hồng"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2025/HNGĐ-ST Ngày: 15/9/2025 V/v tranh chấp: Xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Mỹ Nhung
Các hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Minh Chơn.
2/ Bà Lê Thị Thắm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Anh, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ.
Ngày 15 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 61/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2025. Về tranh chấp “Xin ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 345/2025/QĐXX-ST ngày 27 tháng 8 năm 2025. Giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Văn Đắt N, sinh ngày 27/3/1974.
CCCD số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 04/9/2022. Số điện thoại: xxxx xxxxxx
Địa chỉ: số C, khu V, Phường L, Quận C, thành phố Cần Thơ (nay là số C, khu vực T, Phường C, thành phố Cần Thơ). Có đơn đề ngày 27/8/2025 xin xét xử vắng mặt (BL 47).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ánh H, sinh năm 1966.
CMND số xxxxxxxxx cấp ngày không rõ.
Địa chỉ: số C, khu vực T, Phường L, Quận C, thành phố Cần Thơ (nay là số C, khu vực T, Phường C, thành phố Cần Thơ). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 05/3/2025 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Văn Đắt N trình bày:
1/ Về hôn nhân: ông và bà Nguyễn Thị Ánh H tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào năm 2002. Có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn C, huyện C, tỉnh Cần Thơ (cũ) theo giấy chứng nhận kết hôn số 322/2002 ngày 23/12/2002. Chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, về sau thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, cuộc sống không hạnh phúc. Cả hai đã ly thân nhiều năm. Do mâu thuẫn đã trầm trọng, không hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ánh H.
2/ Về con chung: ông Văn Đắt N khai vợ chồng có 03 con chung tên Văn Thị Hồng N1 (nữ) sinh ngày 18/10/2002, Văn Thị Hồng N2 (nữ) sinh ngày 04/02/2006 và Văn Thị Hồng V (nữ) sinh ngày 08/4/2008. Nguyên đơn có nguyện vọng được nuôi Văn Thị Hồng V và không yêu cầu bà Nguyễn Thị Ánh H cấp dưỡng. Riêng cháu Văn Thị Hồng N1 và Văn Thị Hồng N2 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án điều chỉnh.
3/ Về tài sản chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4/ Nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết, bị đơn bà Nguyễn Thị Ánh H đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt không rõ lý do. Vì thế Tòa án không tiến hành hòa giải được. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, nên vụ án được đưa ra xét xử công khai vắng mặt các bên.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Ông Văn Đắt N và bà Nguyễn Thị Ánh H xây dựng quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo qui định của pháp luật. Nên được xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, thuộc phạm vi điều chỉnh của luật hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Nhận thấy cuộc sống chung của hai vợ chồng đã có thời gian hạnh phúc, đã có 03 con chung với nhau. Lẽ ra cả hai phải càng hiểu và quan tâm đến nhau nhiều hơn. Nhưng bà Ánh H lại không quan tâm đến gia đình và các con, không thiện chí hàn gắn khi có rạn nứt trong quan hệ vợ chồng. Thậm chí khi ông N có đơn xin ly hôn tại tòa án bà vẫn không quan tâm, không liên hệ với Tòa án để trình bày ý kiến của mình. Qua xác nhận của Công an phường L (nay là phường C) ngày 05/3/2025 (BL 04) thì bà Ánh H có đăng ký thường trú tại địa phương nhưng bỏ đi từ năm 2023. Tòa án đã triệu tập hòa giải vào ngày 11/8/2025 (BL 35); triệu tập tham gia phiên tòa vào các ngày 27/8/2025 và ngày 15/9/2025 (BL 38, 46) thậm chí nhắn tin tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng bà Ánh H vẫn không liên hệ với Tòa án để giải quyết vụ kiện. Chứng tỏ bà không có thiện chí muốn duy trì cuộc hôn nhân này với ông N nữa.
Mặc dù đã được động viên hàn gắn đoàn tụ nhưng ông N cho rằng giữa vợ chồng không hòa hợp về tính cách nên thường gây gỗ, bà Ánh H không quan tâm đến gia đình và các con, không có thiện chí hàn gắn. Bản thân ông cũng không còn tình cảm gì với bà Ánh H, không còn tha thiết muốn duy trì cuộc hôn nhân này nữa. Hội đồng xét xử nhận thấy đời sống chung thực tế của hai vợ chồng ông N và bà Ánh H đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân của hai người không đạt được. Và hôn nhân thì phải xuất phát từ sự tự nguyện của cả hai người. Nên việc ông Văn Đắt N xin được ly hôn là hoàn toàn phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: nguyên đơn xác định vợ chồng có 03 con chung tên Văn Thị Hồng N1 (nữ) sinh ngày 18/10/2002, Văn Thị Hồng N2 (nữ) sinh ngày 04/02/2006 và Văn Thị Hồng V (nữ) sinh ngày 08/4/2008. Xét con chung Văn Thị Hồng N1 và Văn Thị Hồng N2 đã thành niên nên Tòa án không điều chỉnh. Riêng cháu Văn Thị Hồng V (nữ) sinh ngày 08/4/2008 đang sống với nguyên đơn. Cháu Văn Thị Hồng V cũng có nguyện vọng tiếp tục được sống với cha (BL 31). Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn không liên hệ tòa án và không thể hiện ý kiến gì về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không thể giao con cho đương sự vắng mặt được. Xét trong thời gian vợ chồng ly thân, hiện nay cháu do ông N nuôi dưỡng và đảm bảo tốt về mọi mặt. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt, phù hợp với giới tính và tâm sinh lý của các cháu, theo Điều 58 và 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014, có căn cứ để chấp nhận nguyện vọng của ông Văn Đ N là giao con cho ông tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con chung.
Tuy nhiên bà Nguyễn Thị Ánh H vẫn được quyền tới lui thăm con theo qui định của pháp luật.
Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: mặc dù đã được giải thích vấn đề cấp dưỡng là quyền lợi của con chung chứ không phải của người nuôi con nhưng ông N vẫn không yêu cầu. Xét đây là tự nguyện thỏa thuận của đương sự, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên chấp nhận. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung không được đặt ra giải quyết do đương sự không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: nguyên đơn xác định không có và không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không điều chỉnh. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ được tách ra giải quyết thành vụ kiện khác theo qui định của pháp luật.
Về án phí: nguyên đơn Văn Đắt N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo qui định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
- Điều 28, 35, 147, 228, 235, 264, 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số qui định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân.
1/- Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
Cho ông Văn Đắt N được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ánh H.
2/- Về con chung: con chung Văn Thị Hồng N1 (nữ) sinh ngày 18/10/2002 và Văn Thị Hồng N2 (nữ) sinh ngày 04/02/2006 đã thành niên nên không điều chỉnh.
- Giao cháu Văn Thị Hồng V (nữ) sinh ngày 08/4/2008 cho ông Văn Đắt N tiếp tục nuôi dưỡng.
- Không đặt vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung cho bà Nguyễn Thị Ánh H.
- Dành quyền thăm nom con chung cho bà Nguyễn Thị Ánh H theo qui định của pháp luật.
3/- Về tài sản chung: Không có nên không điều chỉnh. Nếu sau này có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
4/- Về nợ chung: Không có nên không điều chỉnh. Nếu sau này có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
5/- Về án phí: ông Văn Đắt N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000476 ngày 15/7/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ). Ông Văn Đắt N đã nộp xong án phí hôn nhân sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã, phường nơi cư trú thì các đương sự được quyền kháng cáo để xin xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận - TAND TP Cần Thơ. - VKSND KV 3- Cần Thơ. - Cơ quan Thi hành án. - Người TGTT. - Lưu HS – BA Thái Mỹ Nhung Các hội thẩm nhân dân | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Thái Mỹ Nhung |