- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp xin ly hôn giữa nguyên đơn Trần Thị Mỹ Dung với bị đơn Nguyễn Thanh Phong"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:78/2025/HNGĐ-ST Ngày: 10 - 4 - 2025 V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP-TỈNH HẬU GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Liêm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Quyến;
2. Ông Bùi Văn Phục.
-Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Yến Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Trương Bảo Trân - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 11/2025/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXXST-HN, ngày 03 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Trần Thị Mỹ D, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Tổ 13, ấp Bình Nhứt, xã Nhị Mỹ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn: Nguyễn Thanh Ph, sinh năm 1976.
Địa chỉ: ấp Phương Lạc, xã Phương Bình, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết, nguyên đơn Trần Thị Mỹ D (Sau đây gọi chị D) trình bày:
Giữa chị và bị đơn Nguyễn Thanh Ph (Sau đây gọi anh Ph qua tìm hiểu nhau mà tự nguyện quyết định đi đến hôn nhân vào năm 2017, có đăng ký kết hôn. Trong quá trình sống thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên hay cãi vã nhau, đời sống chung không ai quan tâm đến ai, nhiều lần hòa giải hàn gắn tình cảm nhưng vẫn không đoàn tụ được, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018. Do cuộc sống chung không hạnh phúc, chị D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
-Về hôn nhân: Xin ly hôn với anh Ph.
-Về con chung: Có một người con chung tên Nguyễn Ngọc Phương A (Nữ), sinh ngày 17 tháng 9 năm 2017. Từ khi ly thân đến nay thì con chung do chị nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị D yêu cầu nuôi con, chưa yêu cầu cấp dưỡng.
Về nợ và tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Quá trình tố tụng bị đơn Nguyễn Thanh Ph vắng mặt nên không có lời trình bày.
Tại bản tự khai ngày 03 tháng 3 năm 2025, cháu Nguyễn Ngọc Phương A trình bày (Có sự chứng kiến của chị D): Từ trước đến nay cháu sống với mẹ. Khi cha mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng được sống với mẹ.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Về thủ tục tố tụng: Tòa án, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn; giao con chung cho nguyên đơn nuôi dưỡng. Bị đơn chưa phải cấp dưỡng. Về nợ và tài sản chung, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tranh chấp giữa các đương sự là Tranh chấp ly hôn được qui định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Nguyễn Thanh Ph được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, vắng mặt không lý do nhưng không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử mở phiên tòa xét xử vắng mặt đối với đương sự này.
Xét về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh Ph qua tìm hiểu nhau, tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn ngày 29 tháng 8 năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã Nhị Mỹ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị D: Chị và anh Ph trong thời gian chung sống có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống mà không có giải pháp khắc phục để hoà giải hàn gắn tình cảm mà chọn cách sống ly thân, xét thời gian ly thân thì tự ai người đó sống, không ai quan tâm lo lắng cho ai. Trong quá trình giải quyết, Tòa án tạo điều kiện hòa giải để anh chị được đoàn tụ nhưng anh Ph vắng mặt, chứng tỏ rằng anh Ph cũng không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này. Trong khi tại phiên tòa chị D xác định là không còn tình cảm vợ chồng với anh Ph và cương quyết xin ly hôn. Từ đó thấy rằng hôn nhân giữa hai người đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, có cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D.
Về con chung: Có một người con chung, xét con chung do chị Dung nuôi dưỡng từ khi hai người ly thân, chị Dung có yêu cầu nuôi con. Yêu cầu này là phù hợp với nguyện vọng cháu Phương A. Nhằm tránh gây xáo trộn đời sống của cháu, cần tiếp tục giao cháu Phương A cho chị D nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị Dung, anh Phong có yêu cầu khác.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị D chưa có yêu cầu cấp dưỡng nên không đặt ra xem xét. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho anh Ph mà không ai có quyền cản trở.
Về nợ và tài sản chung: Chị D không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định pháp luật.
Lời đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.12.2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Trần Thị Mỹ D và Nguyễn Thanh Ph.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Phương A (Nữ), sinh ngày 17 tháng 9 năm 2017 cho Trần Thị Mỹ D được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị D, anh Ph có yêu cầu khác.
Nguyễn Thanh Ph chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho Nguyễn Thanh Ph mà không ai có quyền cản trở.
3. Về nợ và tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Trần Thị Mỹ D phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ từ 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009109, ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp thành án phí, không phải nộp thêm.
Trường hợp quyết định này được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh HG; - VKSND huyện PH; - THADS huyện PH; -UBND xã Nhị Mỹ, h.Cao Lãnh, t.Đồng Tháp; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Liêm |