vanban.org

Bản án 78/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S; Buộc bị đơn Nguyễn Thị Ngọc D phải trả cho nguyên đơn số tiền 68.558.930 đồng (Sáu mươi tám triệu năm năm mươi tám nghìn chín trăm ba mươi đồng) gồm nợ gốc là 53.820.998 đồng (Năm mươi ba triệu, tám trăm hai mươi nghìn, chín … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng S - Nguyễn Thị Ngọc D "T/c HĐ sử dụng thẻ tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 – ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2025/DS-ST
Ngày: 30 – 9 - 2025
“V/v Tranh chấp hợp đồng
thẻ tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Uyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Nhật Hoàng Phương và bà Đào Thị Ngâm

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phụng Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 11 – Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Thẩm Anh Trúc – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 11 – Đắk Lắk mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 10/2025/TLST-DS ngày 23/7/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2025/QĐXXST-DS ngày 19/8/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 66/2025/QĐST-DS ngày 11/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 11 – Đắk Lắk, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; Địa chỉ trụ sở chính: 266-268 N, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên hệ: 3 T, phường T, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện theo uỷ quyền: ông Lê Hữu T, sinh năm 1991. Là chuyên viên khách hàng. Ông T có mặt tại phiên toà.

- Bị đơn: Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1994. Địa chỉ: 0 N, phường T, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S do ông Lê Hữu T đại diện theo uỷ quyền trình bày: Ngày 11/05/2023, bà Nguyễn Thị Ngọc D có ký với Ngân hàng TMCP S (Ngân hàng) Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số 2707554 ngày 11/5/2023. Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Trong quá trình sử dụng thẻ, bà Nguyễn Thị Ngọc D không trả nợ cho Ngân hàng nên đến ngày 15/4/2025, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển nợ với nợ gốc và lãi quá hạn là 53.820.998 đồng. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở, gửi thông báo khởi kiện nhưng bà D không có thiện chí trả nợ, vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc D phải trả nợ gốc 53.820.998 đồng và lãi quá hạn theo thoả thuận tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng cá nhân đã ký kết cho đến khi trả dứt nợ vay.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D vắng mặt nên không có lời trình bày.

*Biên bản xác minh ngày 20/8/2025 tại Công an phường T, tỉnh Đắk Lắk xác định bà Nguyễn Thị Ngọc D có đăng ký thường trú tại địa chỉ 0 N, phường D, thành phố T, tỉnh Phú Yên (Nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk). Hiện nay, bà D không có mặt tại địa chỉ trên.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ tại địa chỉ thường trú của bị đơn các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa:

Đại diện nguyên đơn Ngân hàng TMCP S trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bị đơn Nguyễn Thị Ngọc D phải trả số tiền 53.820.998 đồng nợ gốc, nợ lãi quá hạn là 14.737.932 đồng, tổng số tiền là 68.558.930 đồng tạm tính đến ngày 30/9/2025. Bà D có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày 30/9/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất thoả thuận tại Hợp đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Đắk Lắk phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật, bị đơn Nguyễn Thị Ngọc D vắng mặt phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 465, 466 Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 100, 103 Luật Tổ chức tín dụng chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn Nguyễn Thị Ngọc D phải trả số nợ gốc là 53.820.998 đồng và phải chịu tiền lãi theo lãi suất thỏa thuận giữa hai bên tại Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng cấp thẻ tín dụng cho đến khi trả nợ xong. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Tranh chấp giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S và bị đơn Nguyễn Thị Ngọc D được xác định là tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng. Bị đơn Nguyễn Thị Ngọc D có địa chỉ thường trú tại 0 N, phường T, tỉnh Đắk Lắk nên Tòa án nhân dân Khu vực 11 – Đắk Lắk thụ lý và giải quyết theo thẩm quyền quy định tại khoản 3, Điều 26, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn đã cung cấp đúng địa chỉ của bị đơn Nguyễn Thị Ngọc D theo nội dung Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng Hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số 2707554 ngày 11/5/2023. Kết quả xác minh tại Công an phường T, tỉnh Đắk Lắk xác định bà Nguyễn Thị Ngọc D có đăng ký thường trú tại địa chỉ 0 N, phường D, thành phố T, tỉnh Phú Yên (Nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk). Hiện nay, bà D không có mặt tại địa chỉ trên. Xét, bị đơn Nguyễn Thị Ngọc D vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai không rõ lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn cung cấp Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng2707554 ngày 11/5/2023 ký kết giữa Ngân hàng và bà D thể hiện nội dung bà D lựa chọn thẻ tín dụng Family, hạn mức sử dụng 50.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, thời gian bắt đầu từ 11/5/2023. Bà D đã sử dụng thẻ tín dụng do Ngân hàng phát hành và tiến hành các giao dịch với tổng số tiền là 48.000.000 đồng và thanh toán cho Ngân hàng số tiền 26.550.000 đồng (Tính đến ngày 15/01/2025) thứ tự thanh toán áp dụng Điều 20 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng, ưu tiên thanh toán phí lãi trước, giao dịch sau. Do bà D vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 15/4/2025, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ gốc quá hạn. Bà D còn nợ Ngân hàng là 53.820.998 đồng nên ngân hàng yêu cầu bà D phải thanh toán là phù hợp với quy định Điều 19, 23, điểm a, khoản 23.4 Điều 23 Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.

Bị đơn Nguyễn Thị Ngọc D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến tham gia tố tụng, không có lời trình bày ý kiến tại Tòa nên phải chịu hậu quả pháp lý về sự vắng mặt của mình. Do đó, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn Nguyễn Thị Ngọc D phải trả số nợ gốc 53.820.998 đồng (Năm mươi ba triệu, tám trăm hai mươi nghìn, chín trăm chín tám đồng) cho nguyên đơn.

Nguyên đơn yêu cầu bà D phải thanh toán lãi quá hạn tính từ sau ngày 15/04/2025 cho đến khi trả nợ xong. Xét bà D vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết giữa các bên nên ngoài việc có nghĩa vụ thanh toán nợ gốc thì còn có trách nhiệm thanh toán tiền lãi quá hạn phát sinh tính trên dư nợ gốc theo mức lãi suất nợ quá hạn đã thỏa thuận là phù hợp quy định tại khoản 24 Điều 1, Điều 2, Điều 23 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng và Điều 7, Điều 8 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP.

Lãi suất quá hạn là 4,15%/tháng (2,77%/tháng x 150%) theo Quyết định số 3248/2022/QĐ-TT ngày 23/12/2022 của Ngân hàng TMCP S về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ T1 phát hành tại Việt Nam. Số tiền lãi quá hạn tính trên dư nợ gốc 53.820.998 đồng bà D phải trả từ ngày 15/3/2025 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 30/9/2025 là 14.737.932 đồng. Do đó, tổng số tiền gốc và lãi mà bà D phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 30/9/2025 là 68.558.930 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Thị Ngọc D còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi tất toán xong toàn bộ số nợ.

Về án phí: Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn lại cho nguyên đơn tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn Nguyễn Thị Ngọc D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

- Các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng;

- Các Điều 7, 8, 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất phạt vi phạm.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S; Buộc bị đơn Nguyễn Thị Ngọc D phải trả cho nguyên đơn số tiền 68.558.930 đồng (Sáu mươi tám triệu năm năm mươi tám nghìn chín trăm ba mươi đồng) gồm nợ gốc là 53.820.998 đồng (Năm mươi ba triệu, tám trăm hai mươi nghìn, chín trăm chín mươi tám đồng), lãi 14.737.932 đồng (Mười bốn triệu, bảy trăm ba mươi bảy nghìn, chín trăm ba mươi hai đồng)

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Thị Ngọc D còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân cho đến khi tất toán xong toàn bộ số nợ.

Về án phí: Bị đơn Nguyễn Thị Ngọc D phải chịu 3.427.946 đồng (Ba triệu bốn trăm hai mươi bảy nghìn chín trăm bốn mươi sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

H lại cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP S số tiền 1.511.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0009118 ngày 22/7/2025 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 11 – Đắk Lắk.

Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ