- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn T trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT TỈNH VĨNH LONG ––––––––––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2024/HS-ST Ngày 27-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trí Trường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thành Tam
Ông Nguyễn Văn Phẩm
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hoàng Cúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Dương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2024/TLST - HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Tấn T, sinh ngày 07 tháng 5 năm 2003, tại thị trấn CN, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Trú tại: Khóm 1, thị trấn CN, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1968 và bà Huỳnh Thị Ánh T2, sinh năm 1971 (đã chết), chưa có vợ con. Tiền án: 02; ngày 13/01/2023, có hành vi trộm cắp tài sản bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 06 tháng tù giam, đã chấp hành án xong vào ngày 15/5/2024; ngày 17/05/2023, có hành vi trộm cắp tài sản bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 06 tháng tù giam, đã chấp hành án xong vào ngày 15/5/2024 (chưa xóa án tích), tiền sự: 01; ngày 02/12/2022, có hành vi trộm cắp tài sản bị UBND xã CA, huyện M, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 3.000.000 đồng, chưa nộp phạt; nhân thân: bị cáo có án tích chưa được xóa, đã bị xử lý vi phạm hành chính chưa được xóa, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Huỳnh Long T4, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Trú tại: ấp TA, xã CA, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
2.2 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
2.2.1. Nguyễn Thị T3, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Trú tại: ấp TA, xã CA, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
Đại diện theo ủy quyền của bà T3 là ông Huỳnh Long T4. Theo giấy ủy quyền ngày 04/9/2024.
2. Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1968 (vắng mặt)
Trú tại: Khóm 1, thị trấn CN, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 22/12/2022, bị can Nguyễn Tấn T đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” chưa chấp hành nộp phạt và bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, bị can không biết ăn năn, hối cải mà tiếp tục vi phạm.
Vào khoảng 07 giờ 10 phút, ngày 02/9/2024, do không có tiền tiêu xài cá nhân nên bị can Nguyễn Tấn T một mình điều khiển xe môtô biển số 64K2-2316 từ nhà thuộc khóm 1, thị trấn CN, huyện M, tỉnh Vĩnh Long đi theo đường dal cặp sông Măng Thít hướng xuống xã CA, huyện M kiếm tài sản để lấy trộm. Khi T chạy đến nhà ông Huỳnh Long T4 (cậu ruột bị can T) thì T nhìn thấy trong sân có 01 con gà trống nòi có lông màu trắng đỏ đen, không có ai không coi. Lúc này khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, T đậu xe trên đường dal cách nhà ông T4 khoảng năm mét rồi đi bộ vào trong sân, T nhìn thấy cái bội gà được làm bằng kim loại ở trước sân, T lượm 01 đoạn ống nhựa dẻo màu trắng dài 09 mét gần bội gà, T lấy một miếng gỗ dài 0,67 mét và buộc đoạn ống nhựa vào miếng gỗ trên, để chống bội gà lên để tạo khoảng trống cho gà đi vào trong bội, sau đó T lấy bịch bánh gạo màu bạc, nhãn hiệu “Orion An bánh gạo hương vị tự nhiên” của ông T4 để trên bàn, T lấy rải xung quanh trong bội gà rồi kéo đoạn nhựa ra ngồi ở phía ngoài đường đal ngồi chờ. Một lúc sau, con gà trống nòi vào trong bội gà, T giựt dây ống nhựa làm bội gà rớt xuống nhốt con gà trống nòi trong bội, T đi đến bắt con gà bằng tay phải rồi đi ra điều khiển xe môtô 64K2-2316 chạy đi. Lúc này khoảng 7 giờ 50 phút cùng ngày, bà Nguyễn Thị T3 (vợ ông T4) trong nhà đi ra phát hiện có một thanh niên điều khiển xe môtô chạy ngoài lộ trước cửa nhà, trên tay phải có ôm một con gà trống nòi giống với con gà của nhà nên kiểm tra lại thì phát hiện mất 01 con gà nên trình báo Công an xã CA. Công an xã triển khai lực lượng truy tìm đến khoảng 08 giờ 40 phút cùng ngày, thì phát hiện T đang chạy xe ôm con trống nòi trên tại khu vực đường dal thuộc ấp AH, xã CA, huyện M nên mời T về trụ sở làm việc. Qua làm việc Nguyễn Tấn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 27/KLĐGTS ngày 11/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Mang Thít kết luận như sau: 01 con gà trống nòi, trọng lượng 4,2kg, có lông màu trắng đỏ đen, chân gà có vảy màu trắng, có giá trị là: 4,2kg x 100.000 đồng/kg = 420.000 đồng.
Ngày 11/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Đến ngày 24/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít ra quyết định khởi tố bị can và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Nguyễn Tấn T, về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong quá trình điều tra bị can Nguyễn Tấn T đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị can phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, đây là tình tiết quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về vật chứng của vụ án:
- 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Honda Dream Fashion biển kiểm soát 64K2-2316, màu nâu, có số khung DCG012TL-004985, số máy 50FMG2-22B05329, 01 giấy đăng ký xe môtô, xe máy số 0055498, cấp ngày 22/12/2003, biển kiểm soát 64K2-2316. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã chứng minh đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Thanh T1, khi bị cáo lấy xe đi trộm gà ông T1 không biết và đã trả lại cho ông T1 xong.
- 01 (một) đoạn ống nhựa màu trăng, dài 09 (chín) mét, có đường kính ống nhựa 0,5cm; 01 (một) miếng gỗ của tàu lá dừa, có hình dẹp, nơi rộng nhất là 46cm, nơi nhỏ nhất là 25cm, có chiều dài 54cm; 01 (một) cái bội gà bằng kim loại, có chiều cao 67cm, nặng 3,1 kg, có đường kính phần miệng bội gà là 30cm, đường kính phần đáy bội là 99cm; 01 (một) vỏ bịch bánh gạo màu bạc, nhãn hiệu “Orion An bánh gạo hương vị tự nhiên”; 01 (một) con gà trống nòi có trọng lượng 4,2 kg, có lông màu trắng đỏ đen, chân gà có vảy màu trắng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã chứng minh đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Huỳnh Long T4 và đã trả lại cho ông T4 xong.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông T4 đã nhận lại tài sản xong, không có yêu cầu bị cáo bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 68/CT-VKS.HMT ngày 31 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít đã truy tố bị cáo Nguyễn Tấn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a, b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia xét xử phân tich hành vi pha ̣m tô ̣i của bi ̣ cáo và phát biểu nô ̣i dung luâ ̣n tô ̣i
, khẳng
́ đi ̣nh Cáo tra ̣ng Viê ̣n kiểm sát truy tố bi ̣ cáo T về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ , đúng ngườ i đúng tô ̣i và đúng pháp luâ ̣t ; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 173, các điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: xử phạt Nguyễn Tấn T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong, nên miễn xét. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại không yêu cầu nên miễn xét. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa: Do cần tiền tiêu xài nên bị cáo đã bắt trộm một con gà của cậu bị cáo. Trước đó cậu bị cáo có nói có ăn gì thì vô bắt. Bị cáo bị truy tố, xét xử là không bị oan.
Lời sau cùng bị cáo Nguyễn Tấn T thừa nhận hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo còn có cha già.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tất cả các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng từ giai đoạn phát hiện tội phạm đến điều tra, truy tố, xét xử; các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Không có khiếu nại từ phía người tham gia tố tụng.
Về nội dung:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tấn T thừa nhận: Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 02/9/2024, bị cáo Nguyễn Tấn T là người có hành vi lén lút lấy trộm của ông Huỳnh Long T4 một con gà trống nòi, trọng lượng 4,2kg, có lông màu trắng đỏ đen, chân gà có vảy màu trắng, có giá trị 420.000 đồng.
Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, sơ đồ hiện trường và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu của người khác về tài sản. Trong khi mọi người đang tích cực lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất cho mình và góp phần làm giàu cho xã hội, thì bị cáo lại làm ngược lại, muốn có tài sản để sử dụng cho lợi ích cá nhân nhưng lại không lo lao động sản xuất để có thu nhập hợp pháp, mà lợi dụng sự mất cảnh giác của người khác để sau đó lấy tài sản của họ làm của riêng mình, gây bất bình, làm mất trật tự xã hội. Do đó, việc xử lý nghiêm minh đối với bị cáo là cần thiết để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho đời sống xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo có nhân thân không tốt. Trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Đây là tình tiết giảm nhẹ pháp luật quy định; Hội đồng xét xử có xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Theo tài liệu, chứng cứ và lời khai bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã xử lý đúng; Hội đồng xét xử chấp nhận và không xét lại.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận lại tài sản xong, không có yêu cầu, nên không xét.
Đối với quyết định truy tố của bản Cáo trạng và quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tình tiết đã bị xử phạt hành chính là tiết được sử dụng làm điều kiện “cần” để truy tố bị cáo trước đây. Hiện tại bị cáo chưa được xóa án tích nên chỉ cần áp dụng tình tiết đã bị kết án làm điều kiện để truy tố bị cáo trộm cắp tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng là đủ. Mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa là có phần nghiêm khắc nên quan điểm của Cáo trạng và Kiểm sát viên tại phiên tòa chỉ được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Nguyễn Tấn T.
2. Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong, nên không xét lại.
3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại không yêu cầu, nên miễn xét.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Tấn T nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Sở Tư pháp tỉnh; - VKSND huyện; - Công an huyện; - Chi cục THADS huyện; - Phòng hồ sơ CAT; - UBND thị trấn CN; - Những người tham gia tố tụng; -Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Trí Trường |