- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Lương - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về dân sự: Áp dụng điều 584 của Bộ luật Dân sự và Điều 48 của Bộ luật Hình sự buộc bị cáo Phạm Văn L phải bồi thường cho gia đình bị hại số tiền là 10.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2024/HS-ST Ngày 12-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Ninh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Nga.
Bà Nguyễn Thị L.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Đào Quang Liêm và bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn L, sinh ngày 03 tháng 9 năm 1983 tại Hải Phòng; Nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L (đã chết) và bà Vũ Thị P; có vợ là Nguyễn Thị Kim O; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định số 1784/QĐ-UBND ngày 28/5/2012 của UBND huyện Thủy Nguyên về việc đưa đối tượng nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh đối với Phạm Văn L trong thời hạn 24 tháng (đã xóa); Quyết định số 1300/QĐ-UBND ngày 17/4/2014 của UBND huyện Thủy Nguyên về việc áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy đối với Phạm Văn L trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày 27/4/2014. Chấp hành xong ngày 28/4/2015 (đã xóa). Bị tạm giữ từ ngày 30/9/2023 đến ngày 03/10/2023 chuyển tạm giam. Có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng (đã chết). Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Vũ Thị M, sinh năm 1933; địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Giữa anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1975, tổ dân phố Chiến Thắng, thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng và Phạm Văn L có quan hệ hàng xóm ở gần nhà nhau. Khoảng 04 giờ ngày 29/9/2023, Phạm Văn L nghe thấy nhà anh B mở nhạc to nên sang nhắc nhở thì bị anh B chửi bới, L bỏ về nhà. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, anh B uống rượu say về đến trước cổng nhà L, do bực tức vì bị L sang nhà nhắc nhở lúc sáng nên anh B chửi bới và đòi đầu âm ly. Thấy vậy, L ra nói chuyện với anh B và bảo L không lấy gì của anh B, đồng thời dùng tay đẩy anh B về phía cổng nhà anh B dẫn đến giữa L và anh B xảy ra mâu thuẫn, cãi chửi nhau. L giơ tay trái lên dọa tát anh B cho anh B sợ, nhưng anh B vẫn tiếp tục chửi, đồng thời lao về phía L. Thấy anh B lao về phía mình, L dùng tay phải gạt anh B ra đồng thời dùng tay trái theo hướng từ trên xuống tát một nhát trúng vào mặt anh B khiến anh B ngã ngửa ra phía sau, đầu đập xuống nền đường bê tông. Thấy L và anh B cãi chửi, đánh nhau, được mọi người trong xóm chứng kiến và ra can ngăn, L bỏ về, còn anh B được đưa vào nhà. Đến khoảng 05 giờ ngày 30/9/2023, bà Vũ Thị Mách, sinh năm 1933 là mẹ đẻ anh B phát hiện anh B bị chảy máu ở mũi, miệng nên cùng gia đình đưa anh B đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp – Hải Phòng. Đến 12 giờ 30 phút cùng ngày do tình trạng sức khỏe yếu, không phục hồi nên anh B được gia đình đưa về, sau đó chết tại nhà.
Sau khi nhận được tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra phối hợp với cơ quan chuyên môn tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra vụ việc là khu vực đối diện cổng nhà Phạm Văn L. Quá trình khám nghiệm Cơ quan điều tra không phát hiện dấu vết, không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tiến hành khám nghiệm tử thi nạn nhân anh Nguyễn Văn B xác định: Vùng chẩm trái bầm tím tụ máu kích thước (09 x 06)cm. Vùng môi dưới bên phải bầm tím tụ máu, kích thước (03 x 01)cm. Vùng ngón út bàn tay trái xây xước, chợt da nông, kích thước (01 x 05)cm. Tiến hành mổ tử thi xác định: Tổ chức dưới da, cơ vùng chẩm trái tương ứng với vết bầm tím tụ máu bị tụ máu. Cơ hai thái dương không bị tổn thương. Tổ chức não phù tụ máu đông dưới màng cứng bên phải, tổ chức não xung huyết mạnh. Xương hộp sọ và xương nền sọ tương ứng vết bầm tím tụ máu vùng chẩm trái nứt vỡ kéo dài từ vùng chẩm trái vào trung tâm. Tổ chức dưới da, cơ vùng cổ - ngực – bụng không bầm tím tụ máu. Hệ thống xương các vùng này không bị dập gãy. Hai phổi nhạt màu, khoang màng phổi hai bên không chứa dịch. Mặc trước tim có đám màu trắng nhạt kích thước (1,5 x 01)cm. Tổ chức gan thô. Dạ dày chứa thức ăn đã chuyển hóa.
Tại bản kết luận giám định tử thi số 375/KL-KTHS ngày 01/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Thương tích của nạn nhân Nguyễn Văn B có đặc điểm hình thành do vật tày tác động. Nguyên nhân chết: Sốc chấn thương sọ não.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phù hợp nội dung trên. Việc L dùng tay đánh B chỉ là bột phát, không mong muốn tước đoạt mạng sống của anh B. Sau khi gây thương tích khiến anh B bị thương phải đi cấp cứu tại Bệnh viện, L đã đến Công an huyện Thủy Nguyên đầu thú.
Những người làm chứng là chị Bùi Thị Sinh, sinh năm 1972; bà Vũ Thị Bình, sinh năm 1966; anh Nguyễn Văn Thạch, sinh năm 1989 khai nhận việc chứng kiến sự việc phù hợp nội dung trên. Khi xảy ra sự việc, thấy anh Nguyễn Văn B đang trong tình trạng say rượu, không tỉnh táo, chỉ có L và anh B xô xát đánh nhau, ngoài ra không còn ai tham gia cùng.
Đại diện gia đình bị hại là bà Vũ Thị Mách, sinh năm 1933 khai sau khi sự việc xảy ra, gia đình bị cáo Phạm Văn L đã đến thăm hỏi, hỗ trợ bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 40.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại yêu cầu bồi thường thêm số tiền 10.000.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 68/CT-VKSTN ngày 08 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng đã truy tố Phạm Văn L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Phạm Văn L khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với yêu cầu bồi thường thêm số tiền 10.000.000đồng của đại diện bị hại bị cáo đồng ý bồi thường thêm 10.000.000đồng.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Phạm Văn L từ 08 năm tù đến 09 năm tù về tội Cố ý gây thương tích. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 30/9/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thoả thuận của bị cáo với gia đình bị hại bồi thường thêm cho gia đình bị hại số tiền 10.000.000đồng.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thủy Nguyên, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, tài liệu khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, kết luận giám định tử thi và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Ngày 29/9/2023, tại tổ dân phố Chiến Thắng, thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Xuất phát từ việc anh Nguyễn Văn B trong tình trạng uống rượu say, chửi bới Phạm Văn L dẫn đến hai bên xảy ra mâu thuẫn Phạm Văn L đã có hành vi dùng tay tát vào mặt anh Nguyễn Văn B khiến anh B ngã đập đầu xuống nền đường bê tông gây chấn thương sọ não dẫn đến tử vong. Vì vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự nên cần phải xử lý nghiêm. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội thành khẩn khai báo”,“đầu thú” và “gia đình bị cáo tự nguyện hỗ trợ bồi thường” quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo là người có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma tuý nay lại phạm tội nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm số tiền 10.000.000 đồng và bị cáo đồng ý nên cần thiết buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường thêm số tiền 10.000.000 đồng cho gia đình bị hại.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Phạm Văn L 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 30/9/2023.
Về dân sự: Áp dụng điều 584 của Bộ luật Dân sự và Điều 48 của Bộ luật Hình sự buộc bị cáo Phạm Văn L phải bồi thường cho gia đình bị hại số tiền là 10.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về án phí hình sự: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị cáo;
- Người đại diện hợp pháp của bị hại;
- TAND thành phố Hải Phòng;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- VKSND huyện Thủy Nguyên;
- Chi cục THADS huyện Thủy Nguyên;
- CQCSĐT Công an huyện Thủy Nguyên;
- UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
Nguyễn Nam Ninh
- Phòng PV06, PC10;
- Lưu: VT; HCTP; Hồ sơ vụ án.
Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:
Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:
(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).
(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).
(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.
(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của
Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của
Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.
(6) ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).
(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).
(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.
(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.
(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thân ghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp thì ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.
(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.
(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].
(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.
(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:
| Nơi nhận: Ghi những nơi mà Tòa án cấp sơ thẩm phải giao THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA hoặc gửi bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 262 của Bộ luật Tố tụng hình sự và những nơi cần lưu bản án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |