- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đang Thi Th xin ly hon voi Ban Van C"
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2024/HNGĐ-ST Ngày 29/3/2024 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mạc Văn Tuyến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà: Nguyễn Thu Hà - Cán bộ văn phòng xã Chân Sơn.
2. Bà: Hà Thị Vinh - Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thúy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Lương Nguyễn Thảo Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 03/2024/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 29 tháng 2 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 14 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Th, sinh năm 2001;
Địa chỉ: Tổ dân phố L, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
- Bị đơn: Anh Bàn Văn C, sinh năm 1995;
Địa chỉ:: Tổ dân phố L, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
(Chị Th có đơn xin xét xử vắng mặt, anh C vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Chị Đặng Thị Th trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Bàn Văn C kết hôn với nhau ngày 08/5/2019 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Th (nay là UBND thị trấn Y), huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Cuộc sống chung vợ chồng ban đầu hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tôn trọng và tin tưởng nhau, khi mâu thuẫn xảy ra chị đã về nhà bố, mẹ đẻ sinh sống từ đầu năm 2020 và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, trong thời gian sống ly thân vợ chồng không quan tâm gì đến nhau. Nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh Bàn Văn C, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bàn Văn C.
- Về con chung: Chị và anh Bàn Văn C có 01 con chung là cháu Bàn Quỳnh Ch, sinh ngày 16 tháng 6 năm 2018, hiện cháu Chi đang ở cùng với anh C, sau khi ly hôn chị nhất trí để anh C là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản và vay nợ chung: Chị Đặng Thị Th xác định không có tài sản chung và vay nợ chung, nên không yêu cầu giải quyết.
* Bị đơn anh Bàn Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh C đều không có mặt, không đến Tòa án để giải quyết vụ án. Qua xác minh với chính quyền địa phương xác định anh Bàn Văn C có hộ khẩu thường trú tổ dân phố L, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang hiện đang đi làm ăn xa, nhưng anh vẫn thường xuyên về gia đình. Ngoài ra Tòa án đã nhiều lần tiến hành niêm yết văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng anh Bàn Văn C vẫn cố tình không đến Tòa án để giải quyết vụ án, do vậy thuộc trường hợp cố tình trốn tránh.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đối với bị đơn chưa chấp hành việc triệu tập của Tòa án.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Chị Đặng Thị Th, xử cho Chị Đặng Thị Th được ly hôn với anh Bàn Văn C. Về con chung: Giao cháu Bàn Quỳnh Ch, sinh ngày 16 tháng 6 năm 2018 cho anh Bàn Văn C được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị Đặng Thị Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn.
Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị Đặng Thị Th không yêu cầu giải quyết, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc Chị Đặng Thị Th phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn Chị Đặng Thị Th có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Bàn Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Th và anh Bàn Văn C kết hôn với nhau ngày 08/5/2019 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Th (nay là UBND thị trấn Y), huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Như vậy hôn nhân giữa Chị Đặng Thị Th và anh Bàn Văn C là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án Chị Đặng Thị Th xác định cuộc sống chung vợ chồng ban đầu hạnh phúc, nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Khi mâu thuẫn xảy ra vợ chồng không thể hòa hợp được, nên vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2020 đến nay.
Hội đồng xét xử thấy rằng do bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Thúy và anh C. Khi mâu thuẫn xảy ra vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2020 đến nay. Qua xác minh với chính quyền địa phương xác định cuộc sống chung vợ chồng giữa chị Thúy và anh C không hạnh phúc, lý do là anh chị bất đồng quan điểm sống, nhất là trong kinh tế làm ăn, vợ chồng đã sống ly thân nhau, hiện nay chị Thúy đã chuyển về nhà bố, mẹ đẻ sinh sống. Vì vậy có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Thúy và anh C đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể tồn tại được một gia đình ấm no, bình đẳng, hạnh phúc và tiến bộ. Do đó cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Thúy với anh C là phù hợp với quy định tại Điều 56 - Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị Đặng Thị Th và anh Bàn Văn C có 01 con chung là cháu Bàn Quỳnh Ch, sinh ngày 16 tháng 6 năm 2018, hiện đang sinh sống cùng anh Bàn Văn C. Quá trình giải quyết vụ án chị Th nhất trí để anh Bàn Văn C trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Bàn Quỳnh Ch đến khi trưởng thành, nguyên nhân là do chị Th đi làm ăn xa, không có thu nhập và chỗ ở ổn định, chưa có nhà ở. Do vậy để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của cháu Chi cần giao cháu Bàn Quỳnh Ch cho anh Bàn Văn C được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. Chị Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung, trường hợp anh C có yêu cầu chị Th phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sẽ được xem xét, giải quyết trong một vụ án khác.
[4] Về tài sản và vay nợ chung: Chị Đặng Thị Th xác định không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị Đặng Thị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng các Điều 28; 35; 39; 147; 207; 227; 228; 235; 238; 266; 267; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
* Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho Chị Đặng Thị Th được ly hôn với anh Bàn Văn C.
- Về con chung: Giao cháu Bàn Quỳnh Ch, sinh ngày 16 tháng 6 năm 2018 cho anh Bàn Văn C được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Chị Đặng Thị Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn.
- Về án phí: Chị Đặng Thị Th phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000000888499 ngày 05/01/2024 của Công ty cổ phần thanh toán quốc gia Việt Nam và biên lai số 0001080 ngày 09/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Sơn, Chị Đặng Thị Th đã nộp đủ án phí.
Anh Bàn Văn C không phải chịu án phí.
Chị Đặng Thị Th và anh Bàn Văn C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được hay niêm yết bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Yên Sơn; - Chi cục T.H.A DS huyện Yên Sơn; - UBND thị trấn Yên Sơn (Nơi ĐKKH); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mạc Văn Tuyến |