vanban.org

Bản án 78/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Phùng Thị G đối với ông Lê Hùng C.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phùng Thị G được ly hôn với ông Lê Hùng C. Về con chung: Bà Phùng Thị G và ông Lê Hùng C có 02 con chung tên Lê Trúc Q, sinh ngày 21/12/2009 và Lê Gia B, sinh ngày 03/02/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Phùng Thị G yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Lê Hùng C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Phùng Thị G đối với ông Lê Hùng C.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUYÊN MỘC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Bản án số: 78/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20/6/2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Văn Phú Hiên.

2. Ông Đào Danh Tuất.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng – Thư ký tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 19/2024/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2024/QĐST - HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phùng Thị G, sinh năm: 1991 (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Bị đơn: Ông Lê Hùng C, sinh năm: 1988 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Phùng Thị G trình bày:

Bà G và ông Lê Hùng C xây dựng gia đình vào năm 2008 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, hôn nhân là trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông C có tình cảm với người phụ nữ khác bà G nhìn thấy và nghe người khác nói lại. Ngoài ra ông C còn ăn nhậu, chơi cờ bạc không chăm lo đến cuộc sống gia đình, nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, thỉnh thoảng ông C có đánh đập bà G. Từ tháng 10 năm 2023 đến nay vợ chồng không còn chung sống với nhau, không còn quan hệ gì về mặt tình cảm lẫn kinh tế. Ông C làm công ty trại gà ở B Riềng thỉnh thoảng ông C có về nhà, còn bà G vẫn sinh sống tại ấp B, xã T, huyện X.

Về hôn nhân: Bà G yêu cầu được ly hôn với ông C.

Về con chung: Bà G và ông C có 02 con chung tên Lê Trúc Q, sinh ngày 21/12/2009 và Lê Gia B, sinh ngày 03/02/2020, hiện nay 02 con chung đang sinh sống cùng bà G. Bà G yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông C không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà G và ông C tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã triệu tập ông Lê Hùng C đến tham gia hòa giải nhiều lần nhưng ông C vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án lập biên bản về việc vắng mặt đương sự, không tiến hành hòa giải được để làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án. Tại các phiên tòa ông C đều vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Quan hệ tranh chấp: Bà Phùng Thị G yêu cầu ly hôn, giải quyết con chung với ông Lê Hùng C đây là quan hệ pháp luật ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại Khoản 1, Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn ông Lê Hùng C có nơi cư trú tại huyện X theo điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Trong quá trình tham gia tố tụng, ông Lê Hùng C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông C vắng mặt không có lý do, bà Phùng Thị G có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, việc xét xử vắng mặt ông C, bà G là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc tham gia phiên tòa của Kiểm sát viên: Theo Công văn số 115/CV – VKS ngày 24/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, về việc Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa, vì lý do Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ và cũng không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Viện kiểm sát nhân dân huyện X không tham gia phiên tòa vụ án nói trên. Căn cứ quy định tại Điều 232 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử khi Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà G và ông C xây dựng gia đình vào năm 2008 có đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn (Giấy chứng nhận kết hôn số 67, đăng ký ngày 4/11/2008 tại UBND xã T, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), xét đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Bà G cho rằng cuộc sống chung giữa bà G và ông C hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông C có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, ngoài ra ông C còn cờ bạc, nhậu nhẹt, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Bà G và gia đình đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng tình hình vẫn không có gì thay đổi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng.

Kết quả xác minh tại địa phương: Trong thời gian chung sống với nhau giữa bà G và ông C thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cự cãi nhau, nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng bà G thì địa phương không rõ, chỉ biết hiện nay bà G đang sinh sống tại địa phương, còn ông C đi đâu làm gì không rõ, thỉnh thoảng thấy ông C trở về nhà. Nay bà G có yêu cầu ly hôn với ông C, địa phương không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu của bà G cho thấy sau khi mâu thuẫn xảy ra, lẽ ra bà G và ông C phải cùng tìm cách khắc phục những mâu thuẫn của vợ chồng để cuộc sống chung được hạnh phúc, và cùng nhau nuôi dạy con cái nhưng từ tháng 10 năm 2023 đến nay bà G và ông C ly thân, mạnh ai nấy sống, vợ chồng không quan tâm gì đến nhau, theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình – 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”. Sau khi bà G gửi đơn, Tòa án đã tiến hành nhiều phiên hòa giải với mục đích bà G và ông C trở về chung sống cùng nhau nhưng không hòa giải được, ông C vắng mặt không có lý do, thể hiện không có thiện chí hòa giải. Bà G vẫn nhất quyết yêu cầu ly hôn với ông C.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy, tình cảm vợ chồng của bà G và ông C thật sự không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà G đối với ông C.

Về con chung: Bà G và ông C có 02 con chung tên Lê Trúc Q, sinh ngày 21/12/2009 và Lê Gia B, sinh ngày 03/02/2020.

Xét yêu cầu về việc nuôi 02 con chung của bà G:

Từ khi bà G nộp đơn, Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án cho đến nay, ông C không thể hiện ý kiến của mình về việc bà G có yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Hiện nay 02 con chung đang sống cùng bà G, được bà G chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét nguyện vọng của con chung tên Lê Trúc Q, cháu có nguyện vọng được sinh sống cùng bà G. Do đó, để tránh xáo trộn cuộc sống của con chung, Hội đồng xét xử giao 02 con chung tên Q và B cho bà G được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Bà G không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con nên hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phùng Thị G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Áp dụng Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà G phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của bà Phùng Thị G đối với ông Lê Hùng C.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phùng Thị G được ly hôn với ông Lê Hùng C.

2. Về con chung: Bà Phùng Thị G và ông Lê Hùng C có 02 con chung tên Lê Trúc Q, sinh ngày 21/12/2009 và Lê Gia B, sinh ngày 03/02/2020.

Giao 02 con chung tên Lê Trúc Q và Lê Gia B cho bà Phùng Thị G được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Lê Hùng C có trách nhiệm giao 02 con chung cho bà G nuôi dưỡng. Bà Phùng Thị G không yêu cầu ông Lê Hùng C cấp dưỡng nuôi 02 con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ông Lê Hùng C có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phùng Thị G không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Bà Phùng Thị G phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà G đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005208 ngày 16/01/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà G đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ