vanban.org

Bản án 78/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Đặng Thị Mỹ T. Chị Đặng Thị Mỹ T được ly hôn với anh Lê Hoàng Khắc N. Do Chị Đặng Thị Mỹ T và anh Lê Hoàng Khắc N không yêu cầu nghĩa vụ cấp dưỡng vợ và chồng khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.

Về con chung: Chị Đặng Thị Mỹ T được trực tiếp nuôi con chung Lê Hoàng Minh Khang, sinh ngày 21/6/2018. Do chị T không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết. Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết anh N có … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Đặng thị Mỹ T yêu cầu ly hôn với anh Lê Hoàng Khắc N"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Đặng Thị Mỹ T. Chị Đặng Thị Mỹ T được ly hôn với anh Lê Hoàng Khắc N. Do Chị Đặng Thị Mỹ T và anh Lê Hoàng Khắc N không yêu cầu nghĩa vụ cấp dưỡng vợ và chồng khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 115 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠNH PHÚ
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 03-7-2024
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ - TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Phong.

2. Ông Lê Văn Tài.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Sương- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Quí – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 58/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

1. N đơn: Chị Đặng Thị Mỹ T, sinh năm 1995; Địa chỉ: ấp ĐNh, xã L Q, huyện GT, tỉnh Bến Tre. Chị T yêu cầu xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Lê Hoàng Khắc N, sinh năm 1993; Địa chỉ: ấp TL, xã T Ph, huyện P, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tố tụng N đơn chị Đặng Thị Mỹ T trình bày:

Vào năm 2018 chị với anh N tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã LQ, huyện Giồng Trôm và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 12/6/2018.

Chị và anh N có 01 con chung tên Lê Hoàng Minh K, sinh ngày 21/6/2018. Hiện đang sống chung với chị. Chị và anh N không có tài sản chung và nợ chung

N nhân chị yêu cầu ly hôn là do anh N thường xuyên uống rượu, không lo làm ăn phát triển kinh tế gia đình, không quan tâm vợ con, làm cho cuộc sống vợ chồng ngày càng phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống không hạnh phúc nên chị và anh N không còn sống chung hơn 02 năm nay. Khi chị và anh N không còn sống chung thì cha mẹ hai bên có khuyên chị với anh N hàn gắn với nhau nhưng chị không đồng ý.

Nay chị không còn tình cảm với anh N nên chị yêu cầu giải quyết.

- Về hôn nhân: Chị yêu cầu ly hôn với anh N. Sau khi ly hôn chị không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng cho chị.

- Về con chung: Hiện chị đủ điều kiện nuôi con, chị có việc làm ổn định thu nhập mỗi tháng khoảng 8.000.000 đồng. Từ khi chị với anh N không còn sống chung thì anh N không tới lui thăm con, không cấp dưỡng nuôi con chung. Chị nhận thấy chị có khả năng nuôi con chung nên chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, chị không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Lê Hoàng Khắc N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần các thông báo nhưng anh Lê Hoàng Khắc N vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của N đơn và cũng không cung cấp chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về trình tự thủ tục: Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử. N đơn thực hiện đúng qui định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ lời trình bày của N đơn, bị đơn các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 53, 56, Điều 81 và Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của N đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1 Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về thẩm quyền: Bị đơn anh Lê Hoàng Khắc N cư trú tại ấp T L, xã TP, huyện P, tỉnh Bến Tre nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3 Về thủ tục tố tụng:

- Chị Đặng Thị Mỹ T có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T.

- Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt cho anh Lê Hoàng Khắc N các văn bản tố tụng theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh Lê Hoàng Khắc N đều không có mặt theo thông báo và giấy triệu tập của Tòa án. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Lê Hoàng Khắc N.

Về hôn nhân: Năm 2018 chị T và anh N tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã LQ, huyện GT, tỉnh Bến Tre và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 12/6/2018. Do đó, việc kết hôn và đăng ký kết hôn của chị T và anh N là phù hợp với quy định của pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. N nhân chị T yêu cầu ly hôn là do anh N thường xuyên uống rượu, không lo làm ăn phát triển kinh tế gia đình, không quan tâm vợ con, làm cho cuộc sống vợ chồng ngày càng phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống không hạnh phúc nên chị và anh N không còn sống chung hơn 02 năm nay. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần các thông báo, quyết định của Tòa án nhằm tạo điều kiện để chị T và anh N hòa giải với nhau nhưng anh N vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh N đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh N là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do chị T, anh N không yêu cầu cấp dưỡng sau khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.

Về con chung: Chị T và anh N có 01 con chung Lê Hoàng Minh Khang, sinh ngày 21/6/2018. Thấy rằng, từ khi chị T và anh N không còn sống chung, chị T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Anh N không tới lui thăm con chung, không cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện chị T đủ điều kiện nuôi con chung nên cần giao con chung Lê Hoàng Minh Khang, sinh ngày 21/6/2018 cho chị T trực tiếp nuôi. Do chị T không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.

Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết anh N có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và cấp dưỡng nuôi con, chị T có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Do chị T trình bày không có nên không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Do chị T trình bày không có nên không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị T phải nộp theo quy định của pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 53, 56, 81, 82 và Điều 115 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Đặng Thị Mỹ T. Chị Đặng Thị Mỹ T được ly hôn với anh Lê Hoàng Khắc N. Do Chị Đặng Thị Mỹ T và anh Lê Hoàng Khắc N không yêu cầu nghĩa vụ cấp dưỡng vợ và chồng khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.

2. Về con chung: Chị Đặng Thị Mỹ T được trực tiếp nuôi con chung Lê Hoàng Minh Khang, sinh ngày 21/6/2018. Do chị T không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.

Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết anh N có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và cấp dưỡng nuôi con, chị T có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung: Do chị Đặng Thị Mỹ T trình bày không có nên không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Do chị Đặng Thị Mỹ T trình bày không có nên không xem xét giải quyết.

5. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Đặng Thị Mỹ T phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003666 ngày 27 tháng 02 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú và đã nộp xong.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ