- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Nguyễn Thị T và anh Bùi Văn D"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Bùi Văn D.
- Căn cứ chính? Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2024/HNGĐ-ST Ngày: 15-8-2024 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thanh Nguyên
2. Ông Lê Văn Lộc
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thúy Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 177/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 107/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1991 (vắng mặt);
2. Bị đơn: Anh Bùi Văn D, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1987 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: ấp MQ, xã T, huyện AB, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 27/3/2024, đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt ngày 31/7/2024 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày và yêu cầu như sau:
Chị và anh Bùi Văn D chung sống với nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã GT, huyện CT, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn. Chị và anh Bùi Văn D có 03 người con chung tên: Bùi Thị Y, sinh ngày 26/7/2013, Bùi Thị A, sinh ngày 05/8/2019 và Bùi Thị Ngọc Q, sinh ngày 06/3/2022 sống chung với chị từ khi anh chị ly thân đến nay; về tài sản chung và nợ, chị và anh Bùi Văn D không có tài sản chung, không có nợ người khác, người khác không nợ anh chị. Quá trình chung sống anh Bùi Văn D không lo làm ăn, thường xuyên đi chơi về nhà cự cãi với chị và đánh đập chị, đến tháng 01/2023 âm lịch chị sống ly thân với anh Bùi Văn D cho đến nay, thời gian ly thân anh Bùi Văn D không có liên lạc gì với nhau. Chị thấy, chị và anh Bùi Văn D không còn tình cảm vợ chồng, chị yêu cầu Tòa án giải quyết như sau: Về quan hệ hôn nhân, chị yêu cầu được ly hôn với anh Bùi Văn D. Về quan hệ con chung, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 03 người con chung đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được theo nguyện vọng của con chung tên Bùi Thị Y, chị không yêu cầu anh Bùi Văn D cấp dưỡng nuôi con, chị không yêu cầu anh Bùi Văn D cấp dưỡng nuôi con mặc dù đã được Tòa án giải thích về cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung và nợ, không có và không tranh chấp, chị không yêu cầu giải quyết, ngoài ra chị không yêu cầu giải quyết gì khác.
* Tại Biên bản xác minh ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang về nguyên nhân mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị T và anh Bùi Văn D xác lập hôn nhân và sinh sống, làm việc tại ấp MQ, xã T, huyện AB, tỉnh Kiên Giang, hiện nay vắng mặt ở nhà. Chị Nguyễn Thị T và anh Bùi Văn D chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi bất hòa, hôn nhân không còn hạnh phúc, chị đã sống ly thân với anh Bùi Văn D từ năm 2023 cho đến nay, các người con chung hiện nay đang chung sống với chị Nguyễn Thị T.
* Bị đơn anh Bùi Văn D: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho anh Bùi Văn D biết để anh có ý kiến về việc chị Nguyễn Thị T yêu cầu được ly hôn, nuôi con và cấp dưỡng nuôi con với anh nhưng anh Bùi Văn D không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình nên Toà án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
* Tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án gồm: Căn cước công dân tên Nguyễn Thị T (Bản sao); Trích lục kết hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Bùi Văn D số: 190/TLKH-BS ngày 10 tháng 8 năm 2016 của Ủy ban nhân dân xã GT, huyện CT, tỉnh Kiên Giang (Bản sao); 02 Trích lục khai sinh tên Bùi Thị Y, sinh ngày 26/7/2013, Bùi Thị A, sinh ngày 05/8/2019 (Bản sao); Giấy khai sinh tên Bùi Thị Ngọc Q, sinh ngày 06/3/2022 (Bản sao); Đơn xin xác nhận tình trạng cư trú của đương sự ngày 27 tháng 3 năm 2024 của chị Nguyễn Thị T (Bản chính); Biên bản xác minh ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (Bản chính); Bản trình bày nguyện vọng của ngày 21/6/2024 của Bùi Thị Y, sinh ngày 26/7/2013 (Bản chính).
* Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T gửi đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Bùi Văn D vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thực hiện các trình tự thủ tục tố tụng đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo pháp luật luật tố tụng dân sự, gửi đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Bùi Văn D vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Xét đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị T yêu cầu được ly hôn với anh Bùi Văn D và nuôi con là có căn cứ chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Bùi Văn D. Về quan hệ con chung, khi anh chị ly hôn giao 03 người con chung của anh chị cho chị Nguyễn Thị T tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Nguyễn Thị T không yêu cầu đề nghị không xem xét. Về tài sản chung và nợ, chị Nguyễn Thị T tự xác định không có, anh chị không yêu cầu giải quyết đề nghị miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Bùi Văn D, nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Nguyên đơn và bị đơn đều cư trú tại: ấp MQ, xã T, huyện AB, tỉnh Kiên Giang nên xác định đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Bùi Văn D biết và ấn định thời gian để anh có ý kiến về việc chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu được ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh Bùi Văn D nhưng anh không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Toà án tổ chức và thông báo cho các bên đương sự để tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Bùi Văn D vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do. Như vậy, đây thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho anh Bùi Văn D nhưng anh vẫn cố tình vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do, đồng thời chị Nguyễn Thị T gửi đơn yêu cầu xét xử vắng mặt chị. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Bùi Văn D và chị Nguyễn Thị T theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét về quan hệ hôn nhân, chị Nguyễn Thị T và anh Bùi Văn D chung sống với nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Ủy ban nhân dân xã GT, huyện CT, tỉnh Kiên Giang là một trong những nơi anh chị cư trú) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 17/2013 ngày 31 tháng 01 năm 2013, anh chị đảm bảo các điều kiện kết hôn khác theo quy định của pháp luật là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận theo quy định tại Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 nay là Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét khởi kiện của chị Nguyễn Thị T yêu cầu được ly hôn với anh Bùi Văn D, quá trình chung sống anh Bùi Văn D không lo làm ăn, thường xuyên đi chơi về nhà cự cãi với chị và đánh đập chị, đến tháng 01/2023 âm lịch chị sống ly thân với anh Bùi Văn D cho đến nay, thời gian ly thân chị và anh Bùi Văn D không có liên lạc gì với nhau, chị và anh Bùi Văn D không còn tình cảm vợ chồng nữa, chị yêu cầu được ly hôn với anh Bùi Văn D, nhưng anh Bùi Văn D không có ý kiến yêu cầu gì, không quan tâm đến việc chị Nguyễn Thị T yêu cầu được ly hôn với anh Bùi Văn D là vi phạm nghĩa vụ giữa vợ chồng thời gian dài, vợ chồng không chăm sóc, lo lắng lẫn nhau mà anh chị không có biện pháp hàn gắn để chung sống với nhau nên hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị T cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh Bùi Văn D. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị Kiểm sát viên và yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T, cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Bùi Văn D là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con chung, chị Nguyễn Thị T và anh Bùi Văn D có 03 người con chung tên: Bùi Thị Y, sinh ngày 26/7/2013, Bùi Thị A, sinh ngày 05/8/2019 và Bùi Thị Ngọc Q, sinh ngày 06/3/2022 sống chung với chị Nguyễn Thị T từ khi anh chị ly thân đến nay. Khi ly hôn, chị Nguyễn Thị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 03 người con chung; anh Bùi Văn D không có ý kiến yêu cầu gì khác, đồng thời 03 người con chung của anh chị từ khi anh chị ly thân đến nay chung sống với chị Nguyễn Thị T, đã thích nghi với cuộc sống hiện tại, Bùi Thị Y có nguyện vọng chung sống với chị Nguyễn Thị T, ngoài ra con của anh chị đều là con gái, cần phải có sự chăm sóc của mẹ khi phát triển tâm sinh lý. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, yêu cầu của chị Nguyễn Thị T, giao 03 người con chung tên: Bùi Thị Y, sinh ngày 26/7/2013, Bùi Thị A, sinh ngày 05/8/2019 và Bùi Thị Ngọc Q, sinh ngày 06/3/2022 cho chị Nguyễn Thị T được tiếp tục nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ, điểm g khoản 1 Điều 6 của Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con, chị Nguyễn Thị T không yêu cầu anh Bùi Văn D cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ, chị Nguyễn Thị T tự xác định, chị và anh Bùi Văn D không có tài sản chung, chị cam kết anh chị không có nợ người khác, người khác không có nợ anh chị và chị không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp chia tài sản chung và nợ thì được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 241, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 51, Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ, điểm g khoản 1 Điều 6 của Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTV QH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Bùi Văn D.
2. Về quan hệ con chung: Giao 03 người con chung tên: Bùi Thị Y, sinh ngày 26/7/2013, Bùi Thị A, sinh ngày 05/8/2019 và Bùi Thị Ngọc Q, sinh ngày 06/3/2022 cho chị Nguyễn Thị T được tiếp tục nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được và hiện nay đang chung sống với chị Nguyễn Thị T.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu anh Bùi Văn D cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
4. Về tài sản chung và nợ: Chị Nguyễn Thị T tự xác định, chị và anh Bùi Văn D không có tài sản chung, chị cam kết anh chị không có nợ người khác, người khác không có nợ anh chị và chị không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp chia tài sản chung và nợ thì được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.
5. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003202 ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Chị Nguyễn Thị T đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện An Biên; - Chi cục THADS huyện An Biên; - Các đương sự; - UBND xã GT, CT, Kiên Giang; - Lưu: HSVA,VP (Kiều). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Thảo |