vanban.org

Bản án 78/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Cái Răng, TP. Cần Thơ Tuyên án 14/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: điểm a, điểm b khoản 1 điều 173, điểm s khoản 1 và 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự. Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN C
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2023/HSST
Ngày 14-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Trung Hiến

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Tùng

2. Bà Nguyễn Thị Phương Oanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận C.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận C tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Nhãn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận C xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 73/2023/HSST ngày 21 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2023/QĐXX ngày 25/8/2023 đối với bị cáo:

Bị cáo: Nguyễn Thành T, sinh ngày 24 tháng 4 năm 1995; Nơi sinh: Cần Thơ.

Nơi cư trú: Số 2164, khu vực A, phường T, quận A, thành phố Cần Thơ. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 01/12; Họ và tên cha: Nguyễn Thành Ưng (s); Họ và tên mẹ: Bùi Thị Ngọc Thoa (s); Vợ: Trần Thị Yến Nhi và có 01 con sinh năm 2022; Tiền án: Ngày 23/02/2022 bị Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xử phạt 03 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành hình phạt xong ngày 22/7/2022; Tiền sự: 02 lần. Ngày 18/01/2022 bị Công an quận C, thành phố Cần Thơ xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; Ngày 22/8/2022 bị Công an phường T, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương trong vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma túy” do Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương thụ lý và giải quyết. Bị cáo có mặt.

* Người bị hại: Công ty TNHH liên hợp xây dựng Vạn Cường

Đại diện theo ủy quyền ông Vũ Văn B, sinh năm 1980 (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt0

Địa chỉ: Số 06 đường số 5, KDC E, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Phạm Duy T, sinh năm 1980 (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt)

Nơi đăng ký thường trú: ấp 4, xã E, Hện T, thành phố Cần Thơ.

2. Ông Phạm Văn H, sinh năm 1976 (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt)

Địa chỉ: Số 79/15 Điện Biên Phủ, phường T, quận S, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ ngày 10 tháng 11 năm 2022, Nguyễn Thành T điều khiển xe mô tô biển số 65B1- 492.64 ngang qua công trình xây dựng cầu Trần Hoàng Na thuộc khu vực 4, phường Hưng Thạnh, quận C, thành phố Cần Thơ do Công ty trách nhiệm hữu hạn liên hợp xây dựng Vạn Cường thi công thì nhìn thấy một số sắt đã qua sử dụng được để gần công trình, không ai trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Lúc này, Nguyễn Thành T đỗ xe gần đó, đi đến lấy một số sắt và để lên xe mô tô, khi chuẩn bị đem đi tiêu thụ thì bị ông Vũ Văn Ban là nhân viên của Công ty phát hiện (bút lục 38 - 39).

Tại Kết luận định giá tài sản số 84/TCKH-HĐĐG ngày 19 tháng 12 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ: 01 (một) tấm sắt ván khuôn phế liệu có trọng lượng 27kg đã qua sử dụng; sắt ô môi liệu có trọng lượng 43kg đã qua sử dụng. Tổng trọng lượng sắt phế liệu là 70 kilogam x 14.500 đồng/kg, tổng tài sản định giá được là 1.015.000 đồng (Một triệu không trăm mười lăm nghìn đồng) (bút lục số 79 - 80).

Đối với tài sản bị trộm cắp, đại diện Công ty trách nhiệm hữu hạn liên hợp xây dựng Vạn Cường là ông Vũ Văn Ban đã nhận lại số tài sản trên, không yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Thành T (bút lục số 42 - 43, 66).

Đối với xe mô tô biển số 65B1-492.64 mà Nguyễn Thành T sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thuộc sở hữu của ông Phạm Văn H, ông H đã bán xe cho một người nam (không nhớ bán cho ai). Xe mô tô trên đang được tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật (bút lục số 69).

Ngoài hành vi phạm tội trên, ngày 14 tháng 11 năm 2022, Nguyễn Thành T bị Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xử phạt 06 tháng tù về hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 06 tháng 02 năm 2022 và đã bị Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố Cần Thơ ra quyết định truy nã.

Tại cáo trạng số: 68/CT-VKS ngày 16/8/2023 Viện kiểm sát nhân dân quận C đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận C, thành phố Cần Thơ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về lo cho gia đình.

Đối với người bị hại Công ty TNHH liên hợp xây dựng Vạn Cường, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Duy T, Phạm Văn H có yêu cầu giải quyết vắng mặt cho nên Tòa án áp dụng Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

Đối với tài sản bị trộm cắp, đại diện Công ty trách nhiệm hữu hạn liên hợp xây dựng Vạn Cường là ông Vũ Văn Ban đã nhận lại số tài sản trên, không yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự và có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Thành T.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 65B1 – 492.64 qua làm việc là của Phạm Văn H, ông H khai là đã bán lại xe này cho người khác nhưng không nhớ rõ họ tên. Ông H không có yêu cầu gì đối với xe mô tô này. Vào ngày 10 tháng 11 năm 2022 bị cáo T sử dụng xe này đi trộm cắp tài sản. Cơ quan thi hành án đang tạm giữ 01 xe mô tô biển số 65B1 – 492.64 và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận C đã truy tìm chủ sỡ hữu hợp pháp để giải quyết. Đây là phương tiện bụ cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nếu sau 01 năm kể từ ngày đăng thông báo ngày 08 tháng 06 năm 2023 mà chủ sở hữu hoặc người bảo quản hợp pháp không khiếu nại để giải quyết theo qui định thì sẽ tịch thu sung công Nhà nước.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Thành T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự và đề nghị mức án đối với bị cáo T từ 06 tháng tù đến 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Về xử lý vật chứng thì đề nghị tiếp tục giao cơ tiếp tục giao cơ quan thi hành án tạm giữ 01 xe mô tô biển số 65B1 - 49264 tên Phạm Văn H nếu sau 01 năm kể từ ngày đăng thông báo ngày 08 tháng 06 năm 2023 mà chủ sở hữu hoặc người bảo quản hợp pháp không khiếu nại để giải quyết theo qui định thì sẽ tịch thu sung công Nhà nước; Ghi nhận người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm.

Hội đồng xét xử nhận thấy; Qua phần kết quả xét hỏi công khai và tranh luận tại phiên tòa, đối chiếu với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở để kết luận hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Vào ngày 10 tháng 11 năm 2022, Nguyễn Thành T đã có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 65B1-492.64 ngang qua công trình xây dựng cầu Trần Hoàng Na thuộc khu vực 4, phường Hưng Thạnh, quận C, thành phố Cần Thơ do Công ty trách nhiệm hữu hạn liên hợp xây dựng Vạn Cường thi công thì nhìn thấy một số sắt đã qua sử dụng được để gần công trình, không ai trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khi chuẩn bị đem đi tiêu thụ thì bị ông Vũ Văn Ban là nhân viên của Công ty phát hiện cùng tang vật. Tại Kết luận định giá tài sản số 84/TCKH-HĐĐG ngày 19 tháng 12 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ: 01 (một) tấm sắt ván khuôn phế liệu có trọng lượng 27kg đã qua sử dụng; sắt ô môi liệu có trọng lượng 43kg đã qua sử dụng. Tổng trọng lượng sắt phế liệu là 70 kilogam x 14.500 đồng/kg, tổng tài sản định giá được là 1.015.000 đồng (Một triệu không trăm mười lăm nghìn đồng). Mặc dù tài sản bị cáo trộm được chỉ có giá trị là 1.015.000 đồng nhưng trước đây bị cáo đã có 01 tiền sự và 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản. Ngày 18/01/2022 bị Công an quận C, thành phố Cần Thơ xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.Vào ngày 23/02/2022 bị Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xử phạt 03 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành hình phạt xong ngày 22/7/2022. Như vậy, bị cáo chưa được coi là được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội. Lần phạm tội này của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được qui định tại điểm a và b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận C truy tố bị cáo Nguyễn Thành T theo tội danh và điều luật như viện dẫn là hoàn toàn chính xác, có căn cứ.

Bị cáo là công dân Việt Nam, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng với bản chất xem thường pháp luật bị cáo vẫn bất chấp thực hiện. Hành vi mà bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Xét, về nhân thân bị cáo xấu có một tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản và 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội và bị Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xử phạt 06 tháng tù giam, bị cáo đã bỏ trốn và đã bị Cơ quan thi hành án thành phố Cần Thơ ra quyết định truy nã. Bị cáo bị tạm giữ khi có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy tại thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Điều này cũng thể hiện ý thức xem thường pháp luật của bị cáo trong việc chấp hành chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, lần phạm tội này cần phải áp dụng một mức hình phạt thật nghiêm khắc để tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo giúp bị cáo sống theo khuôn khổ pháp luật. Đồng thời, cũng để răn đe và trấn áp loại tội phạm này hiện nay trong xã hội.

Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng đã xem xét đến các T tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được qui định tại điểm s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về T tiết tăng nặng: Mặc dù bị cáo có tiền án về tội trộm cắp tài sản, tuy nhiên các T tiết này là căn cứ để định tội đối với bị cáo cho nên Hội đồng xét xử không áp dụng T tiết tăng nặng đối với bị cáo được qui định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xét, đề nghị về mức hình phạt của Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có cơ sở chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục giao Cơ quan thi hành án tạm giữ 01 xe mô tô biển số 65B1 – 49264; số máy: Không; số khung: LHYA1103303025 mang tên Phạm Văn H đã qua sử dụng nếu sau 01 năm kể từ ngày đăng thông báo ngày 08 tháng 06 năm 2023 mà chủ sở hữu hoặc người bảo quản hợp pháp không khiếu nại để giải quyết theo qui định thì sẽ tịch thu sung công Nhà nước theo Quyết định cHển vật chứng số 50/QĐ-VKS-CR ngày 16 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ (BL152).

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

Bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: điểm a, điểm b khoản 1 điều 173, điểm s khoản 1 và 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xử phạt: Nguyễn Thành T 09 (Chín) tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Về xử lý vật chứng: Tiếp tục giao Cơ quan thi hành án tạm giữ 01 xe mô tô biển số 65B1 – 49264; số máy: Không; số khung: LHYA1103303025 mang tên Phạm Văn H đã qua sử dụng nếu sau 01 năm kể từ ngày đăng thông báo ngày 08 tháng 06 năm 2023 mà chủ sở hữu hoặc người bảo quản hợp pháp không khiếu nại để giải quyết theo qui định thì sẽ tịch thu sung công Nhà nước theo Quyết định cHển vật chứng số 50/QĐ-VKS-CR ngày 16 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ (BL152).

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tiếp theo ngày tuyên án, các bị cáo và những người tham gia tố tụng có mặt; trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với những người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự thủ tục phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ