vanban.org

Bản án 78/2023/HS — Hình sự

TAND huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 07/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Trọng T (C) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Trọng T (C) 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2023. Về dân sự: Ghi nhận việc bị cáo bồi thường cho anh L1 số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng); bồi thường cho anh Q là 50.000.000đ. (Năm mươi triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Trọng T (C) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Dân sự; Điều 2 Nghị quyết số Số: 02/2022/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số q…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN CẨM MỸ
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số:78/2023/HS -
ST
Ngày: 07 – 8 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI Thành

phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lữ Kim Hằng

Bà Thái Thị Thủy Tiên

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 08 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 77/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Trọng T (Cà Lanh); sinh năm 1984; tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Tổ B, ấp C, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông: Trần H, sinh năm 1963 và bà: Hồ Thị L, sinh năm 1965; Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình; Vợ: Trần Thị K, sinh năm 1986 (đã ly hôn), hiện đang sống chung như vợ chồng với chị Đoàn Thị Mộng T1, sinh năm 1983 và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2010 và nhỏ sinh ngày 02/3/2023; Tiền án: không; Tiền sự: 01. Ngày 02/12/2021, bị Công an huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” với số tiền 1.500.000 đồng. Ngày 06/12/2021, thi hành xong.

- Nhân thân:

+ Ngày 26/01/2000, bị Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ra Quyết định đưa vào Trường G với thời hạn 24 tháng.

+ Ngày 25/6/2002, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 06/12/2002, bị Tòa án nhân dân huyện Long Khánh xử phạt 03 năm 10 tháng tù về các tội “Trộm cắp tài sản”, “Cố ý gây thương tích”, “Trốn khỏi nơi giam”. Tổng hợp hình phạt của 02 bản án trên là 04 năm 06 tháng tù. Ngày 14/7/2007, chấp hành xong hình phạt tù.

+ Ngày 26/6/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 30/9/2009, chấp hành xong hình phạt tù.

+ Ngày 23/12/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 29/01/2016, chấp hành xong hình phạt tù. + Ngày 09/9/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ xử phạt 06 tháng 08 ngày tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Được tuyên trả tự do tại tòa. Hiện đã được xóa án tích. - Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/3/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Đồng Nai.

* Người bị hại:

1. Anh Trần Trung Q, sinh năm 1990

Địa chỉ: A, Khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

2. Anh Dương Nguyễn Minh L1, sinh năm 1993.

Địa chỉ: G, đường C, khu phố B, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Đoàn Thị Mộng T1, sinh năm 1983.

Địa chỉ: khu phố S, thị trấn L, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

2. Chị Nguyễn Thị Cẩm L2, sinh năm 1990.

Địa chỉ: A, khu phố Đ, T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

* Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Đình Vinh Q1, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Tổ B, ấp C, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

2. Anh Lê Nguyễn Minh N, sinh năm 1985.

Địa chỉ: H, Phan Văn H1, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

3. Anh Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1998.

Địa chỉ: 06/1/16, đường A, khu phố B, phường H, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.

(Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trần Trọng T và anh Nguyễn Đình Vinh Q1 là hàng xóm, ở cạnh nhà nhau. Vào tối ngày 10/10/2022, anh Q1 cùng với nhóm bạn của mình gồm: anh Trần Trung Q; anh Dương Nguyễn Minh L1; anh Lê Nguyễn Minh N; anh Nguyễn Thanh T2 tổ chức ăn nhậu tại nhà anh Q1. Đến khoảng 00 giờ ngày 11/10/2022, do thấy anh Q1 và những người trên ăn nhậu ồn ào nên T đi sang nhà anh Q1 và nói: “Tụi mày sống như con chó vậy. Giờ này tụi mày còn nhậu nhẹt, không để ông già tao ngủ, ông già tao đang nằm kế bên”. Lúc này, Q đứng lên thách thức và đáp lại: “Anh có vài nét mực trên mình, anh có làm gì được ai đâu”. Thật trả lời: “Để xem tao làm gì được tụi mày”, rồi bỏ đi về. Do vẫn còn bực tức nên T nảy sinh ý định đánh nhóm người ở bên nhà anh Q1. Thật lấy 01 con dao rựa dài khoảng 60cm cán gỗ, lưỡi sắt đi về phía cổng nhà Q1. Lúc này, Quốc mở cổng ra ngoài để đi vệ sinh. Thấy vậy, T đi tới dùng dao rựa chém 01 nhát, sượt vào tay Q. Sau đó, anh Q và T tiếp tục cự cãi. Nghe tiếng ồn ào bên ngoài cổng nên Q1, T2, L1 chạy ra can ngăn, nên T và Q dừng lại. Khi Q đang đi vào trong nhà anh Q1 thì thấy điện thoại của T bị rơi trước đó, đang nằm dưới đất, đổ chuông và sáng đèn, Q nhặt lên hỏi “của ai”? thì T nói là “của tao”. Nghe T nói vậy thì Q cầm điện thoại lên và đập mạnh xuống đất làm bể nát điện thoại của Thật. Khi thấy Q đập bể điện thoại của mình thì T dùng dao rựa lao tới chém 01 nhát trúng bàn tay phải của Q gây thương tích. Thấy Q bị chém, L1 và T2 cầm cây gỗ chạy tới đánh T để giải vây cho Q. Khi đánh nhau với T thì L1 bị T dùng dao rựa chém 02 nhát trúng đầu và tay gây thương tích. Sau đó, T bỏ chạy, còn L1 và Q được đưa đi cấp cứu.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1387/TgT/2022 ngày 04/01/2023, Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận Trần Trung Q bị những thương tích sau:

+ Tổn thương hoàn toàn thần kinh giữa bên phải, cả nhánh cảm giác và nhánh vận động, vị trí tương ứng vết thương cổ tay phải. Tỷ lệ: 21%. + Tổn thương gãy xương thuyền, xương thang, xương thê cổ tay phải. Tỷ lệ: 07%.

+ Sẹo mặt trước cẳng cổ gan bàn tay phải kích thước 10x0,3cm. Tỷ lệ: 02%.

Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y1 quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Trần Trung Quốc là: 28%.

-

Vật gây thương tích: Vật sắc.

-

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1388/TgT/2022 ngày 28/12/2022, Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận Dương Nguyễn Minh L1 bị những thương tích sau:

+ Sẹo vùng trán đỉnh phải trong chân tóc kích thước 05x0,2cm. Tỷ lệ: 01%.

+ Sẹo mặt ngoài cổ tay phải kích thước 04x0,2cm. Tỷ lệ 01%.

Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y1 quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Dương Nguyễn Minh L1 là: 02%.

-

Vật gây thương tích: Vật sắc.

Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo cũng đã bồi thường được một phần cho bị hại. Ngoài ra, bị hại cũng có một phần lỗi trong vụ án nói trên.

Vật chứng vụ án:

-

02 dao rựa dài khoảng 60cm cán gỗ, lưỡi sắt. Đây là hung khí T sử dụng để chém Q và L1. Sau khi gây án Thật đã vứt đi, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không thu hồi được.

-

01 điện thoại di động hiệu S M12, màu xanh. Đây là điện thoại của Trần Trọng T sử dụng để liên lạc cá nhân. Do điện thoại này là vật chứng trong vụ án Trần Trung Q phạm tội “Hủy hoại tài sản” nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tách ra đưa vào hồ sơ vụ án trên.

-

Số tiền 10.000.000 đồng của người nhà Thật giao nộp Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C để khắc phục một phần hậu quả cho bị hại, hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ.

-

Về trách nhiệm dân sự:

+ Bị hại Trần Trung Q yêu cầu Thật bồi thường số tiền 88.500.000 đồng.

+ Bị hại Dương Nguyễn Minh L1 yêu cầu Thật bồi thường số tiền 12.681.000 đồng. Hiện Thật đã tác đồng gia đình giao nộp 10.000.000 đồng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C để khắc phục một phần hậu quả.

Tại bản Cáo trạng số: 77/CT-VKS ngày 26/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ đã truy tố bị cáo Trần Trọng T3 (C) về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a, khoản 1, điểm đ, khoản 2, Điều 134 - Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ giữ nguyên bản Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp điểm a, khoản 1, điểm đ, khoản 2, Điều 134, điểm b, s, khoản 1, Điều 51, BLHS 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); đề nghị xử phạt bị cáo Trần Trọng T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng. Thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2023.

Vật chứng vụ án: Không thu hồi được.

Về dân sự: Tại phiên tòa, anh Trần Trung Q yêu cầu bị cáo bồi thường 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng); anh Dương Nguyễn Minh L1 yêu cầu bị cáo bồi thường 5.000.000đ (Năm triệu đồng), bị cáo đồng ý bồi thường nên ghi nhận.

Gia đình bị cáo đã giao nộp 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để bồi thường thiệt hại cho các bị hại. Tiếp tục tạm giữ số tiền trên để bảo đảm thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa hôm nay, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của những người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Cụ thể tối ngày 10/10/2022, Nguyễn Đình Vinh Q1 cùng với nhóm bạn của mình gồm anh Trần Trung Q; anh Dương Nguyễn Minh L1; anh Lê Nguyễn Minh N; anh Nguyễn Thanh T2 tổ chức ăn nhậu tại nhà anh Q1 và hát Karaoke, nói chuyện lớn tiếng nên bị cáo đã qua yêu cầu dừng việc ồn ào gây ảnh hưởng đến hàng xóm. Hai bên đã xảy ra cự cãi và T về nhà lấy dao rựa qua chém gây thương tích cho anh L1 và anh Q. Qua giám định anh Q bị tổn thương cơ thể 28%; anh L1 bị tổn thương cơ thể là 02%.

Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo Trần Trọng T (C) phạm tội “Cố ý gây thương tích” là đúng quy định. Bị cáo dung dao rựa gây thương tích cho anh Q và anh L1 là dùng hung khí nguy hiểm nên thuộc trường hợp được quy định tại điểm a, khoản 1, điểm đ, khoản 2, Điều 134 - BLHS năm 2015.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ nên cần có hình phạt nghiêm để bị cáo rèn luyện bản thân.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường một phần cho người bị hại; các bị hại cũng có một phần lỗi thuộc các trường hợp quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51- BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình.

Vật chứng của vụ án: Đã thất lạc không thu hồi được nên không xem xét giải quyết.. [5] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa, anh Trần Trung Q yêu cầu bị cáo bồi thường 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng); anh Dương Nguyễn Minh L1 yêu cầu bị cáo bồi thường 5.000.000đ (Năm triệu đồng), bị cáo đồng ý nên ghi nhận.

Tiếp tục tạm giữ 10.000.000đ (Mười triệu đồng) tiền gia đình bị cáo giao nộp để bảo đảm thi hành án. (Biên lai thu tiền số 0009593 ngày 26/6/2023) của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí HSST và 2.750.000đ (Hai triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng) án phí DSST.

Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: đúng quy định của pháp luật.

Đối với hành vi của Dương Nguyễn Minh L1 và Nguyễn Thanh T2 cầm cây gỗ đánh Thật, mục đích của L1 và T2 nhằm để ngăn chặn việc Thật chém Q. Mặt khác, thương tích của T không đáng kể, Thật cũng không có yêu cầu xử lý về hành vi cố ý gây thương tích nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét xử lý.

Đối với việc Trần Trung Q có hành vi đập bể điện thoại của Thật. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Q về tội “Hủy hoại tài sản” trong vụ án khác.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a, khoản 1, điểm đ, khoản 2, Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 38, Điều 48 - BLHS 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Căn cứ Điều 590 – Bộ Luật dân sự; Áp dụng Điều 2, Điều 3, Điều 7 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.

Tuyên bố bị cáo Trần Trọng T (C) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Trọng T (C) 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2023.

2.

Về dân sự: Ghi nhận việc bị cáo bồi thường cho anh L1 số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng); bồi thường cho anh Q là 50.000.000đ. (Năm mươi triệu đồng).

Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho anh L1 và anh Q là 5.000.000đ + 50.000.000đ = 55.000.000đ (Năm mươi lăm triệu đồng).

Tiếp tục tạm giữ 10.000.000đ (Mười triệu đồng) tiền gia đình bị cáo giao nộp để bảo đảm thi hành án. (Biên lai thu tiền số 0009593 ngày 26/6/2023) của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ.

3.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí HSST và 2.750.000đ (Hai triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng) án phí DSST.

4.

Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ