vanban.org

Bản án 78/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 05/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Ngọc M 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/02/2023. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Ngọc M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc M phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2023/HS-ST
Ngày: 01-6-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH - TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Văn Đức.

2. Bà Hoàng Thị Phụng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 6 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2023/HSST ngày 28 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Ngọc M, sinh ngày 29/8/1983, tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: đường P, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Trần Ngọc V và bà Vũ Thị Đ; có vợ là Hà Thị T (đã ly hôn); có con 01 con; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Bản án số 45 ngày 18/5/2000, Tòa án nhân dân thị xã Thái Bình 03 tháng 21 ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/01/2000 về tội Trộm cắp tài sản công dân. Được tuyên trả tự do tại tòa do thời hành chấp hành án phạt tù bằng thời hạn tạm giam; Chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 28/7/2000.

- Bản án số 99 ngày 17/9/2001, Tòa án nhân dân thị xã Thái Bình xử phạt 9 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/5/2001 về tội Trộm cắp tài sản. Đã chấp hành xong hình phạt tù năm 2002; Chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 15/9/2005.

- Bản án số 07 ngày 28/01/2008, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/10/2007 về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày ngày 19/01/2010; Chấp hành xong án phí và khoản sung quỹ nhà nước ngày 17/02/2009.

- Quyết định số 889 ngày 27/4/2010 Ủy ban nhân dân thành phố Thái Bình về việc áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động Xã hội thời hạn 12 tháng do nghiện ma túy. Ngày 02/3/2011 được miễn chấp hành thời gian còn lại trong quyết định do mắc bệnh hiểm nghèo cần đưa về gia đình chăm sóc, điều trị.

- Quyết định số 4802 ngày 24/11/2011 Ủy ban nhân dân thành phố Thái Bình về việc áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động Xã hội thời hạn 12 tháng do nghiện ma túy. Chấp hành xong ngày 28/11/2012.

Bị bắt tạm giam từ ngày 22/02/2023 đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1991.

Trú tại: đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Chị Trần Thị Thùy L, sinh năm 1993, trú tại xóm x, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài cá nhân, nên khoảng 11 giờ 30 phút ngày 09/02/2023, Trần Ngọc M điều khiển xe môtô có chữ Honda AIRBLADE màu trắng - đỏ - đen, biển số 17B9 - 006.44 đến khu vực phường B, thành phố T mục đích xem ai sơ hở tài sản thì trộm cắp. Đến khoảng 11 giờ 50 phút cùng ngày, M điều khiển xe đến trước cửa shop T bán quần áo, mỹ phẩm của chị Nguyễn Thị T tại đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình thì dừng lại rồi dựng xe trước cửa shop. Sau khi quan sát thấy không có người trông coi, M đã đi vào trong cửa hàng trộm cắp 01 túi xách có chữ FENDI ROMA màu vàng đen; 01 lọ nước hoa có chữ NARCISO RODRIGUEZ FOR HER màu hồng 50ml; 01 bộ dưỡng chăm sóc da có chữ Dr.Jart + CICAPAIR; 01 lọ sữa rửa mặt có chữ BRING GREEN ARTEMESIA đều để trên kệ bán hàng. Sau đó M mang toàn bộ số tài sản đã trộm cắp được ra xe để rồi tiếp tục quay vào trong quán để trộm cắp thêm tài sản. Khi M vừa quay lại trong quán thì bị chị Trần Thị Thùy L, là nhân viên của cửa hàng đi từ trên tầng xuống phát hiện. Thấy vậy, M chạy ra xe nổ máy điều khiển xe đi về hướng đường Lý Bôn thì chị L chạy đuổi theo định kéo xe M lại nhưng không kịp. M điều khiển xe mang toàn bộ tài sản đã trộm cắp được cất giấu trong phòng ngủ tầng 3 của gia đình M tại số nhà 278, đường Phan Bá Vành, tổ 12, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình. Sau khi phát hiện mất tài sản chị Nguyễn Thị T đã lên cơ quan Công an để trình báo sự việc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình đã triệu tập Trần Ngọc M làm việc, tại Cơ quan điều tra Trần Ngọc M đã khai nhận hành vi phạm tội và giao nộp số tài sản đã trộm cắp.

Tại bản kết luận định giá số 09/KL- HĐĐGTS ngày 17/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thái Bình kết luận tổng trị giá tài sản mà Trần Ngọc M trộm cắp là 5.195.000 đồng (Năm triệu một trăm chín mươi năm nghìn đồng). Trong đó: Trị giá 01 túi xách màu vàng đen là 1.750.000 đồng. Trị giá 01 lọ nước hoa màu hồng 50ml là 1.650.000 đồng. Trị giá 01 bộ dưỡng chăm sóc da là 1.380.000 đồng. Trị giá 01 lọ sữa rửa mặt là 415.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận như trên. Lời khai của người làm chứng là chị Trần Thị Thùy L, lợi khai của bị hại đều thể hiện như lời khai của bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 81/CT - VKSTPTB ngày 27/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Trần Ngọc M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/2/2023. Không đề nghị xử phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra giải quyết. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng : Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và còn được chứng M bằng: Biên bản xác định hiện trường; Sơ đồ hiện trường; Bản ảnh hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình lập ngày 13/02/2023; Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử và biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 09/02/2023 và ngày 10/02/2023 tại Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; Kết luận định giá số 09/KL- HĐĐGTS ngày 17/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thái Bình; Kết luận giám định số 329/KL-KTHS ngày 22/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình và Phụ lục kèm theo cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Hồi 11 giờ 50 phút ngày 09/02/2023, tại shop T Tây bán quần áo, mỹ phẩm của chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1991, địa chỉ số nhà x, đường N, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Trần Ngọc M có hành vi trộm cắp 01 túi xách có chữ FENDI ROMA màu vàng đen, 01 lọ nước hoa có chữ NARCISO RODRIGUEZ FOR HER màu hồng 50ml, 01 bộ dưỡng chăm sóc da có chữ Dr.Jart + CICAPAIR, 01 lọ sữa rửa mặt có chữ BRING GREEN ARTEMESIA tổng giá trị tài sản 5.195.000 đồng (Năm triệu một trăm chín mươi năm nghìn đồng).

Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Điều 173. Tội trộm cắp tài sản quy định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: …5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.” Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội và gây hoang mang cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản. Bị cáo đã biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào và được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, thành khẩn khai báo. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị đưa ra xét xử và đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của Kiểm sát viên mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Toàn bộ tài sản bị cáo trộm cắp đều đã trả lại cho bị hại, bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo phải bồi thiệt hại gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết.

Đối với chiếc xe máy có chữ Honda AIRBLADE màu trắng - đỏ - đen, biển số 17B9 - 006.44, Trần Ngọc M điều khiển đi trộm cắp là tài sản hợp pháp của ông Trần Ngọc V, sinh năm 1957, trú tại đường P, phường Q, thành phố T, là bố đẻ của bị cáo. Ông V không biết bị cáo điều khiển xe đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình đã ra quyết định trả lại xe cho ông Trần Ngọc V là có căn cứ. Ông V đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Ngọc M 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/02/2023.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Ngọc M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Ngọc M được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 01/6/2023. Chị Nguyễn Thị T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ