- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn P - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Giết người”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự xử lý; Điều 123 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:78/2023/HS-ST Ngày: 23/8/2023 s |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Vĩnh Chuyển
Thẩm phán:
Bà Dƣơng Thị Hồng Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Mạnh Long
Ông Đoàn Ngọc Đăng
Bà Hà Thị Minh Phƣợng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Thanh Huyền – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thảo Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2023 Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên toà để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn P (Tên gọi khác: P điên, Tý), sinh ngày: 27/9/1974 tại Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Chung cư S1, tổ 18 phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn P1 và bà Trần Thị Mỹ H (đều đã chết); Có vợ Đinh Thị H1 và có 03 con, (con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2014), Tiền sự: Không;
Tiền án: Tại bản án số 160, ngày 22/8/1996 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam
- Đà Nẵng xử phạt 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” (đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa thi hành án về bồi thường phần dân sự nên chưa được xóa án tích).
Về nhân thân:
- Ngày 01/8/1991 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (tại thời điểm phạm tội P là người dưới 18 tuổi). (Bản án số 237/1991/HSST).
- Ngày 20/6/2007 bị Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xử phạt 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 BLHS và 12 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 2 Điều 143 BLHS. (Bản án số 24/2007/HSST).
- Ngày 29/6/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 138 BLHS. (Bản án số 14/2007/HSST)
Bị bắt tạm giam ngày 07/9/2022. Bị cáo hiện đang tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn P - Luật sư Lê Thị Hồng Th - Đoàn luật sư thành phố Đà Nẵng theo yêu cầu của Tòa án. Có mặt.
* Người bị hại: Ông Đinh Gia H2 (Tôm) ; Sinh năm 1998; Nơi cư trú: Phòng 404 Chung cư S1, tổ 18 phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Huỳnh Minh T, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Tổ 23 phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
* Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Tổ 23 phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
- Bà Đinh Thị H1, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Phòng 404 Chung cư S1, tổ 18 phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đinh Gia H2 là con riêng của vợ Nguyễn Văn P (bà Đinh Thị H1); trong quá trình chung sống do H2 hay nói hỗn với P nên cả hai thường xuyên xảy ra cãi nhau. Sáng sớm ngày 05/9/2022, H2 xông vào phòng vợ chồng P để chửi bới thì được bà Đinh Thị H1 (mẹ ruột H2) khuyên can đi ra ngoài. Sau đó, H2 đi đến chỗ làm tại đầu kiệt số 24A, tổ 23, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ - đen biển kiểm soát 43E1-197.02 đến nơi H2 làm việc. Tại đây, P và H2 tiếp tục xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, giằng co nhau. Lúc này, H2 thách đố P1 là “Mày ngon thì giết tao đi”. Nghe vậy, P1 bực tức, nhặt 01(một) cây cây gỗ dài khoảng 65cm (có sẵn gần đó), xông đến đánh vào chân của H2. H2 dùng tay giật lấy được cây gỗ trên tay P1 và đánh trả lại P1. Anh Huỳnh Minh T cùng anh Nguyễn Văn B vào căn ngăn. H2 tiếp tục thách đố P1 nên P1 chạy vào nhà anh T1 lấy 01(một) con dao bằng kim loại dài khoảng 18cm (dụng cụ dùng để mở vỏ hàu) và 01(một) cái kéo bằng kim loại dài khoảng 19cm, cầm trên tay rồi quay ra đâm liên tiếp 02 (hai) nhát vào người H2 (trong đó 01 nhát trúng vào vùng ngực và 01 nhát trúng vào vùng lưng) rồi bỏ đi đến chỗ xe mô tô P1 dựng gần đó. Thấy vậy, H2 tiếp tục chửi bới, thách đố P1 là “Mày đâm được 02 (hai) nhát rồi thì mày đâm tiếp tao đi”, rồi H2 đi đến nơi P1 đang định dắt xe, dùng chân đạp mạnh một cái vào xe mô tô của P1, P1 dùng tay giữ xe lại và bỏ đi ra chỗ khác. Sau đó, P1 vứt con dao và cây kéo ở dưới nền phòng khách nhà anh T1 rồi điều khiển xe mô tô bỏ đi. Còn H2 được người dân gần đó đưa đi cấp cứu.
Ngày 07/9/2022, P1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đầu thú.
Tang, tài vật thu giữ:
- Từ anh Huỳnh Minh T: 01(một) cây gỗ màu vàng hình chữ nhật, dài khoảng 65cm; 01(một) áo thun tay ngắn, màu xanh dương, có 01(một) vết rách ở phía trước và phía sau áo dài khoảng 02 cm; mặt sau của áo có in dòng chữ “FUCK IN COOK”, xung quanh vết rách có dính màu nâu sẫm, nghi là máu; 01(một) áo thun dài tay màu đen, dài khoảng 50cm, mặt trước áo có in chữ “Adidas”, có 01(một) vết rách ở dưới chữ Adidas” dài khoảng 02 cm và mặt sau của áo có 03 (ba) vết rách, mỗi vết rách dài khoảng 02cm gần cạnh nhau; quanh vết rách có dính màu nâu sẫm, nghi là máu; 01(một) mũ bảo hiểm, màu đen không nhãn hiệu; 01(một) đôi dép bằng cao su, màu đen có in dòng chữ Nike; 01(một) con dao bằng kim loại dài 18cm (cán cầm bọc nhựa màu đen, dài 10 cm, lưỡi dao màu trắng dài khoảng 08cm, mũi dao sắt nhọn); 01(một) cái kéo bằng kim loại dài 19cm (cán cầm bọc nhựa màu đỏ, dài 10cm; có hai lưỡi bằng kim loại màu trắng, dài 09cm), trong đó có 01(một) lưỡi dao bị gãy một đoạn 01cm.
- Từ anh Phạm Văn Văn: 01(một) đĩa CD màu vàng lưu trữ dữ liệu camera ghi nhận vụ việc anh Đinh Gia H2 bị đâm vào ngày 05/9/2022 tại phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 324/TgT ngày 14/12/2022 của Trung tâm pháp y thành phố Đà Nẵng, kết luận:
- Dấu hiệu chính qua giám định:
+ Vết thương thấu ngực: Rách màng tim, thủng thất phải, gây tràn máu màng tim, đã được phẫu thuật mở ngực dọc theo xương ức, khâu vết thương tim, khâu màng tim, khâu xương ức, khâu cân cơ. Hiện tại vết mổ và vết thương bên ngoài đã lành sẹo, da và niêm mạc hồng, nạn nhân không hồi hộp mệt ngực, không đau tức ngực, nhịp tim đều rõ và trùng với mạch quay, chưa phát hiện biến chứng. Trên siêu âm dopper: Van hai lá và van động mạch chủ thanh mảnh, bảo tồn. Các buồng tim có kích thước bình thường. Không rối loạn vận động vùng. Chức năng tâm thu thất trái bình thường EF = 60%. Chức năng tâm trương thất trái bình thường. Hở van 3 lá 2/4. Áp lực động mạch phổi không tăng PAPS 22mmHg. Không có dịch màng ngoài tim.
- Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 38%
Tổn thương này do ngoại lực tác động trực tiếp và vật tác động phù hợp với vật sắc nhọn gây nên.
Con dao và cái kéo trong trường hợp này đều có thể gây tổn thương trên.
Tại kết luận giám định số 1766/TgT ngày 13/12/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận: Trên con dao không phát hiện thấy có máu người.
Tại kết luận giám định số 458/TgT ngày 24/3/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận: Trên cái kéo có máu người, do có lẫn ADN của nhiều người nên không truy nguyên được có phải là máu của Đinh Gia H2 hay không.
Với nội dung trên: Tại Bản cáo trạng số 59/CT-VKSĐN-P2 ngày 11/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn P khai nhận: Do có bực tức về việc Đinh Gia H2 (con riêng của vợ) có lời lẽ thách thức bằng lời nói “Mày có ngon thì giết tao đi” tại đầu kiệt 24 An Đồn, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng (khi bị cáo và H2 gặp nhau tại đây), do đó bị cáo có nhặt 01(một) cây gỗ (có sẵn nơi gần đó) đánh 01 (một) cái vào người của H2, dẫn đến hai bên xảy ra xô xát, giằng co đánh nhau, trong lúc giằng co đánh nhau thì có ông Huỳnh Minh T và ông Nguyễn Văn B (có mặt tại nơi xảy ra xô xát đánh nhau) vào can ngăn nên giữa bị cáo và H2 chấm dứt việc xô xát đánh nhau. Tuy nhiên, do còn bực tức nên tiếp sau đó bị cáo chạy vào bên trong khu vực vệ sinh nhà ông T1 lấy 01 (một) con dao và 01(một) cái kéo (có lưỡi sắc nhọn) chạy ra nơi bị hại H2 đang đứng đâm liên tiếp 02 (hai) nhát vào người của H2 (Trong đó 01 nhát đâm trúng vào vùng ngực và 01 nhát trúng vào vùng lưng phía sau), đâm xong bị cáo vứt hung khí gây án tại hiện trường và bỏ trốn, còn ai đưa H2 đi cấp cứu tại bệnh viện bị cáo không biết; Vì vậy, bị cáo thừa nhận VKS nhân dân thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo về tội “Giết người” là đúng pháp luật, không oan; Đồng thời bị cáo cũng không có ý kiến khiếu nại gì về việc Tòa án Quyết định đưa vụ án ra xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh VKS truy tố theo tình tiết định khung quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS; Bị cáo chỉ xin HĐXX xem xét cho hành vi phạm tội của bị cáo để áp dụng mức hình phạt phù hợp, để bị cáo cải tạo tốt, sớm được về với gia đình;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Giết người” như cáo trạng số 59/CT-VKSĐN-P2 ngày 11/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tại văn bản số: 466/VKS-P2 ngày 04/7/2023 về việc chuyển hồ sơ vụ án Nguyễn Văn P cho Tòa án để xét xử theo quy định của pháp luật sau khi nhận được Quyết định trả hồ sơ để diều tra bổ sung số: 16/2023/HSST-QĐ ngày 28/6/2023 của HĐXX Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng; Trên cơ sở phân tích đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân bị cáo, qua đó đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Giết người”
Về hình phạt: Căn cứ khoản 2 Điều 123; điểm h khoản 1 Điều 52; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15 và khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P từ 06 (sáu) năm đến 07 (bảy) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đinh Gia H2 không yêu cầu bồi thường, nên không đề cập đến.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS, xử lý như đề cập trong nội dung bản cáo trạng truy tố, theo quy định của pháp luật.
Luật sư Lê Thị Hồng Thanh người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn P tại phiên tòa có quan điểm luận cứ bào chữa như sau: Đồng tình với quan điểm luận tội của KSV đại diện VKS nhân dân thành phố Đà Nẵng tại phiên tòa về việc giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn P tại Bản cáo trạng số: 59/CT-VKSĐN-P2 ngày 11/5/2023 về tội “Giết người” theo tình tiết định khung quy định tại khoản 2 Điều 123 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật, nên không có tranh luận về tội danh và khoản truy tố đối với bị cáo P1; Luật sư cho rằng nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo sử dụng hung khí gây ra thương tích cho bị hại là do bị hại H2 có những hành vi, lời nói không chuẩn mực đối với bị cáo (Trong khi bị cáo là người cùng có trách nhiệm với bà Hải mẹ ruột (H2) trực tiếp nuôi dưỡng khi H2 còn nhỏ), Vì vậy, luật sư đề nghị HĐXX xem xét yếu tố lỗi của bị hại để đánh giá một cách khách quan, toàn diện diễn biến của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra đối với bị hại để cân nhắc khi quyết định hình phạt. Mặt khác, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình (vợ bị cáo) lo chi phí về điều trị thương tích cho bị hại, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, trên cơ sở đó luật sư đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 123, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 57 và khoản 1 Điều 54 BLHS cho bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất đề nghị của đại diện VKS tại phiên tòa nhằm thể hiện tính nhân đạo pháp luật XHCN.
Người bị hại anh Đinh Gia H2 tham gia phiên toà đề nghị HĐXX: Về trách nhiệm bồi thường: Không yêu cầu bị cáo bồi thường. Về hình phạt: Đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 28/6/2023, HĐXX nhận thấy hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn P đối với bị hại Đinh Gia H2 là có tính chất côn đồ, hung hãn cố ý tước đoạt tính mạng của người bị hại khi sự việc mâu thuẩn xảy ra xô xát giữa các bên đã được mọi người can ngăn và khi cả hai đã chấm dứt việc xô xát đánh nhau; Vì vậy, HĐXX đã ra quyết định số: 16/2023/HSST-QĐ trả hồ sơ cho VKS nhân dân thành phố Đà Nẵng để điều tra bổ sung truy tố bị cáo Nguyễn Văn P với tình tiết định khung quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS; Tuy nhiên, sau khi nhận quyết định trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung, truy tố bị cáo P1 cho đúng pháp luật, VKS nhân dân thành phố Đà Nẵng cho rằng hành vi phạm tội của Nguyễn Văn P không có căn cứ truy tố về tội “Giết người” theo tình tiết định khung quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS; Do đó, giữ nguyên bản cáo trạng truy tố số: 59/CT-VKSĐN-P2 ngày 11/5/2023 đối với Nguyễn Văn P, đồng thời có văn bản số: 466/VKS-P2 về việc chuyển trả lại hồ sơ vụ án Nguyễn Văn P cho Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo luật định;
Căn cứ khoản 3 Điều 298 BLTTHS về “Giới hạn của việc xét xử” Tòa án cần xét xử bị cáo Nguyễn Văn P về tội danh nặng hơn tội danh VKS truy tố sau khi Tòa án đã có quyết định trả hồ sơ để VKS truy tố lại; Căn cứ Điều 76 BLTTHS ngày 10/7/2023 Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng có văn bản số: 623/CV-TA về việc đề nghị Đoàn luật sư thành phố Đà Nẵng cử Luật sư bào chữa cho bị cáo P1 theo luật định; Ngày 19/7/2023 Đoàn luật sư thành phố Đà Nẵng có văn bản số: 169/2023/ĐLS gửi Công ty Luật TNHH Lê Thị Hồng Thanh & Cộng sự cử Luật sư bào chữa, bảo vệ cho bị cáo, đồng thời cùng ngày Công ty Luật TNHH Lê Thị Hồng Thanh & Cộng sự có văn bản số: 69/TB-CTL gửi Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng thông báo cử luật sư Lê Thị Hồng Thanh bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa.
Căn cứ các tiểu mục [1.1],[1.2] nêu trên ngày 20/7/2023 Tòa án nhân thành phố Đà Nẵng Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 130/2023/QĐXXST-HS xét xử bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS và quyết định này đã được tống đạt hợp lệ cho bị cáo; Sau khi nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về việc Tòa án xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh VKS truy tố. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý Luật sư Lê Thị Hồng Thanh là người bào chữa cho bị cáo theo chỉ định của Tòa án, Do đó, căn cứ Điều 291 BLTTHS Tòa án xét xử vụ án theo luật định.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Mặc dù tại phiên tòa đại diện VKS nhân dân thành phố Đà Nẵng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn P tại Bản cáo trạng truy tố số: 59/CT-VKSĐN-P2 ngày 11/5/2023 về tội “Giết người” với tình tiết định khung quy định theo khoản 2 Điều 123 BLHS tại Văn bản số: 466/VKS-P2 ngày 04/7/2023; Tuy nhiên, qua xem xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà; lời khai của người bị hại, người làm chứng, kết luận về giám định đối với tổn thương cơ thể bị hại, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:
Đinh Gia H2 bị hại (con riêng bà Hải vợ bị cáo) trong quá trình chung sống cùng với bị cáo, H2 thường có những lời nói hỗn láo, xúc phạm đối với bị cáo nên cả hai thường xuyên xảy ra việc cải vã nhau, tuy trong sáng sớm ngày 05/9/2022 H2 có xông vào phòng ngủ của vợ chồng bị cáo chửi bới và vụ việc đã được bà Hải (mẹ ruột H2) khuyên can và sau đó H2 đi đến chỗ làm tại đầu kiệt số 24 An Đồn, phường A, quận S, Đà Nẵng. Đến khoảng 6 giờ sáng cùng ngày bị cáo P1 cũng đi đến tại chỗ H2 làm việc; Khi cả hai gặp nhau tại đây, H2 có dùng lời nói thách thức bị cáo “Mày có ngon thì giết tao đi”, do bực tức từ câu nói của H2 nên bị cáo có nhặt 01 (một) cây gỗ gần đó đánh vào người của H2 đẫn đến việc hai bên giằng co xô xát đánh nhau, lúc này có ông Huỳnh Minh T và Nguyễn Văn B (người chứng kiến sự việc) vào can ngăn nên cả hai đã chấm dứt việc xô xát đánh nhau, song với bản tính côn đồ hung hãn cao độ, không tự kiềm chế bản thân, cố ý tước đoạt tính mạng của người bị hại (H2), bất chấp sự can ngăn của ông Bình, ông T1, coi thường mọi người..., bị cáo tiếp tục chạy vào bên trong khu vực vệ sinh nhà ông T1 lấy 01 (một) con dao bằng kim loại dài 18cm (cán dài 10cm, lười dao màu trắng dài 00cm, mũi dao sắt nhọn) và 01 (một) cái kéo bằng kim loại dài khoản 19cm (đây là hai loại hung khí nguy hiểm có tính sát thương cao) dùng làm hung khí cầm trên tay chạy ra nơi bị hại H2 đang đứng đâm liên tiếp 02 (hai) nhát vào người của H2 (trong đó 01 (một) nhát trúng vào vùng ngực và 01 (một) nhát trúng vào vùng lưng) là những vùng trọng yếu trên cơ thể bị hại H2, sau đó bị cáo vứt hung khí tại hiện trường bỏ trốn để mặc cho hậu quả xảy ra, bị hại H2 được mọi người đưa vào bệnh viện cấp cứu kịp thời, việc bị hại H2 không chết và bị tổn thương cơ thể với tổng tỷ lệ thương tích 38% là nằm ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn P đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” theo quy định tại Điều 123 BLHS.
Xét thấy, giữa bị cáo và bị hại tuy trước đó có xảy ra mâu thuẫn, đánh nhau, tuy nhiên, việc xô xát đánh nhau đã được mọi người can ngăn, các bên đã chấm dứt chuỗi hành vi, lẻ ra trong trường hợp này bị cáo phải biết kiềm chế bản thân và tôn trọng mọi người khi đã can ngăn, nhưng vì muốn tước bỏ tính mạng của người bị hại và coi thường mọi người…, bị cáo cố ý thực hiện hành vi quyết liệt đến cùng là thể hiện tính chất côn đồ, hung hãn; Vì vậy,VKS nhân dân thành phố Đà Nẵng cho rằng không có căn cứ truy tố Nguyễn Văn P về tội “Giết người” theo tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS và giữ nguyên Bản cáo trạng số 59/ CT-VKSĐN-P2 ngày 11/5/2023 về việc truy tố Nguyễn Văn P về tội “Giết người” với tình tiết định khung quy định khoản 2 Điều 123 tại văn bản số: 466/VKS-P2 ngày 04/7/2023 sau khi HĐXX ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung là không đúng với tính chất do hành vi trái pháp luật của bị cáo đã gây ra cho bị hại; Do đó, việc Tòa án xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh VKS truy tố là đúng pháp luật.
. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:
Đây là vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, bởi lẽ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người luôn được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đến khách thể nói trên một cách trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng đều bị pháp luật trừng trị và xử lý, tùy theo tính chất, mức độ do hành vi trái pháp luật gây ra, bị cáo P1 có đầy đủ nhận thức về điều đó, song với bản tính côn đồ, hung hãn coi thường tính mạng người khác, cùng một lúc bị cáo sử dụng hai loại hung khí 01(một) con dao và 01 (một) cái kéo đều bằng kim loại là loại hung khí có tính sát thương cao đâm liên tiếp 02 nhát vào vùng ngực, vùng lưng (là vùng trọng yếu) trên cơ thể của người bị hại (H2) gây ra hậu quả với tỷ lệ tổn thương cơ thể 38%. Việc bị hại không chết là do được đưa đi cứu chữa kịp thời, là thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, nằm ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm, đã xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Do vậy, việc các cơ quan tiến hành tố tụng, bắt điều tra, truy tố bị cáo ra trước pháp luật để xử lý trừng trị riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội là cần thiết.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Xét bị cáo có nhiều tiền án, trong đó có 01 (một) tiền án chưa được xóa án tích theo luật định, nên lần phạm tội này của bị cáo là thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS khi quyết định hình phạt cho bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đồng thời tác động gia đình (vợ) tự nguyện lo chữa trị thương tích cho bị hại, tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, về hậu quả người bị hại không chết là thuộc trường hợp “phạm tội chưa đạt”; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15 và khoản 3 Điều 57 BLHS để áp dụng khi quyết định hình phạt cho bị cáo.
Về quyết định hình phạt: Mặc dù VKS truy tố bị cáo theo tình tiết định khung khoản 2 Điều 123 BLHS, tuy nhiên, Tòa án xét xử bị cáo với tình tiết định khung “có tính chất côn đồ” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS là thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng có khung hình phạt tù từ 12 năm, 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình, vì vậy cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt nghiêm khắc, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội, song xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS khi quyết định hình phạt cho bị cáo, tuy nhiên, HĐXX không chấp nhận mức hình phạt mà đại diện VKS đề nghị tại phiên tỏa.
Xét luận cứ của luật sư người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa về việc đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt cho bị cáo về cơ bản phù hợp với phần nhận định của HĐXX tại tiểu mục [5.2] và mục [6] nên ghi nhận; Tuy nhiên, việc luật sư đề nghị áp dụng cho bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất mà đại diện VKS đề nghị là không phù hợp, nên HĐXX không chấp nhận.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Tại phiên tòa anh H2 không yêu cầu bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự, nên HĐXX không đề cập đến.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự xử lý như sau:
Đối với các vật chứng bị cáo sử dụng vào việc phạm tội không có giá trị sử dụng nên tịch thu để tiêu hủy.
Đối với 01 (một) đĩa DVD chứa đoạn video ghi nhận vụ việc thì tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án.
Các vật chứng thu giữ của bị hại tuy không có liên quan đến việc phạm tội, nhưng không có giá trị sử dụng và bị hại (H2) cũng không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí và quyền kháng cáo:
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo bản án theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Giết người”.
2. Về hình phạt:
2.1. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm h khoản 1 Điều 52; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P: 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 07/9/2022.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015,
Tuyên:
3.1. Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa DVD lưu trữ dữ liệu camera ghi nhận vụ việc anh Đinh Gia H2 bị đâm ngày 9/2022.(đã lưu tại hồ sơ vụ án) .
3.2. Tịch thu tiêu hủy vật chứng bị cáo sử dụng vào việc phạm tội gồm: 01(một) cây gỗ màu vàng hình chữ nhật, dài khoảng 65cm; 01(một) con dao bằng kim loại dài 18cm (cán cầm bọc nhựa màu đen, dài 10 cm, lưỡi dao màu trắng dài khoảng 08cm, mũi dao sắt nhọn); 01(một) cái kéo bằng kim loại dài 19cm (cán cầm bọc nhựa màu đỏ, dài 10cm; có hai lưỡi bằng kim loại màu trắng, dài 09cm), trong đó có 01(một) lưỡi dao bị gãy một đoạn 01cm;
3.3. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng không có giá trị sử dụng do (bị hại Đinh Gia H2) không có nhu cầu nhận lại gồm: 01(một) áo thun tay ngắn, màu xanh dương, mặt sau của áo có in dòng chữ “FUCK IN COOK”, có 01(một) vết rách ở phía trước và 01(một) vết rách ở phía sau áo dài khoảng 02 cm; xung quanh vết rách có dính màu nâu sẫm; 01(một) áo thun dài tay màu đen, mặt trước áo có in chữ “Adidas”, có 01(một) vết rách ở dưới chữ “Adidas” dài khoảng 02 cm và mặt sau của áo có 03 (ba) vết rách, mỗi vết rách dài khoảng 02cm gần cạnh nhau; quanh vết rách có dính màu nâu sẫm; 01(một) mũ bảo hiểm màu đen không nhãn hiệu; 01(một) đôi dép bằng cao su, màu đen có in dòng chữ Nike;
(Toàn bộ vật chứng trên hiện Cục Thi hành án dân sự TP. Đà Nẵng đang tạm giữ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 tháng 6 năm 2023).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Đà Nẵng; -VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - Phòng HSNV- CATPĐN; - PC 45 - CA TP. Đà Nẵng; - Cơ quan THAHS – Công an Tp Đà Nẵng; - Cục THADS TPĐN - Trại giam Hoà Sơn; - Những người tham gia tố tụng; - Sở Tư pháp TPĐN; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký và đóng dấu) Phan Vĩnh Chuyển |