- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án HSST Đặng Đình T - Giết người. - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Đặng Đình T 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 30/6/2022.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự Bộ luật hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 123 Bộ luật Hình sự Bộ luật hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ___________ Bản án số: 78/2023/HS-ST Ngày: 29 – 6–2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trầ n Phương Đông
Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Quang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Đây
Ông Dương Công Túy
Ông Bùi Tấn Đô
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Ông Phan Quốc Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 92/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2023 và Thông báo bổ sung Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/TB-TA ngày 20/6/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đối với bị cáo:
Đặng Đình T - Giới tính: Nam; Sinh ngày 05 tháng 02 năm 1995, tại: tỉnh Đắk Lắk; Nơi đăng ký thường trú: thôn Q, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở hiện nay: ấp Bình L xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Họ tên cha: Đặng Ngọc H - sinh năm 1963; Họ tên mẹ: Phan Thị Đ - sinh năm 1967; Gia đình có 04 anh em, bị can là thứ hai trong gia đình; Họ và tên vợ: Nguyễn Thị Phương T, sinh năm: 1998 (đã ly thân); Con: Đặng Nguyễn Đình L, sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không;
(Nhân thân: - Ngày 17/4/2012, bị Công an huyện E, tỉnh Đắk Lắk xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, đã nộp phạt; - Ngày 13/11/2012 bị Tòa án nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 06 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em”, đã chấp hành xong Bản án).
Bị cáo ra đầu thú vào ngày 01/2/2022 và bị bắt tạm giam vào ngày 30/6/2022 theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số: 28/LB-CQCSĐT-ĐTTH ngày 02/6/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Đồng Nai. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Vũ Đinh L và ông Phạm Văn Y – Luật sư Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Bị hại: Ông Nguyễn Tấn C, sinh năm 1981. Địa chỉ: Thôn 4, xã Đường 10, Huyện B, tỉnh Bình Phước. Hiện tạm trú tại: Nhà trọ Út N, tổ 1, ấp Bình L, xã L, Huyện L, tỉnh Đồng Nai (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đặng Đình T thuê phòng trọ số 10 tại khu nhà trọ Út N, địa chỉ tại tổ 1, ấp Bình L, xã L, huyệ n L, tỉnh Đồng Nai. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 31/01/2022, khi Đặng Đình T đi làm về phòng trọ rồi qua phò ng tr ọ số 09 của anh Nguyễn Tấn C (kế bên phòng của T) để nhậu với mọi người. Trong lúc nhậu, T đưa cho anh C 250.000 đồng để góp tiền nhậu chung nhưng anh C không nhận. T nghĩ anh C khinh thườ ng mình nên T bỏ về phòng trọ của mình. Khoảng 05 phút sau, T đi qua phò ng số 26 của anh Tạ L (chung khu nhà trọ với T) để ngồi nhậu với anh Tạ L, anh Trần Văn D (sinh năm 1990, ngụ tại Hoằng L, Hoằng H, Thanh Hóa) và một số người khác. Trong lú c nhậ u, T kể với anh Linh về sự việc xảy ra tại phòng trọ của anh C như trên.
Đến khoả ng 20 giờ cù ng ngà y , anh C qua phòng của anh L tìm thùng nư ớc đá của mình để lấy nước ngọt bên trong uống nhưng không còn nên anh C đập mạnh nắp thùng nước đá xuống và quay về phò ng tr ọ số 09 của mình. Khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày, anh L và T bê thù ng đá qua phòng số 09 để trả cho anh C thì T nhìn thấy dưới đất ở dãy hành lang phòng trọ có 01 con dao (có lưỡi bằng kim loại dài khoảng 15cm, cán nhựa mà u và ng) nên nhặt lên cầm bên tay phải. Khi đến trước cửa phòng trọ số 09, anh L gõ cửa phòng thì anh C ra mở cửa, khi anh L bê thùng xốp đựng nước đá đưa vào phòng cho anh C và quay ra thì T cầ m dao trên tay ph ải đâm 01 nhát vào phần hông ph ải củ a anh C rồi rút dao ra và bỏ trốn. Ngày 01/02/2022, T đến Công an xã Lộc A , huyện L đầ u thú và khai nh ận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vậ t chứ ng v ụ án: 01 (một) con dao dài khoảng 15 cm, lưỡi bằng kim loại, cán nhựa màu vàng là hung khí gây án. Khi bỏ trốn, T vứt mất nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
- Tại Bản Kế t luậ n giá m đị nh Phá p y về thương tí ch s ố 0333/TgT/2022 ngày 06 tháng 4 năm 2022 của Trung tâm Phá p y tỉ nh Đồ ng Nai kết luận về tình trạng thương tích của anh Nguyễn Tấn C như sau:
+ Tổn thương thủng đại tràng 02 lỗ đã phẫu thuật khâu lỗ thủng, hiện tại không có biến chứng.
+ Tổn thương thủng tá tràng 01 lỗ đã phẫu thuật khâu lỗ thủng.
+ Sẹo hông phải kích thước 1,8 x 0,2cm.
+ Sẹo mổ đường trắng giữa kích thước 15 x 0,4cm.
+ Sẹo dẫn lưu hông trái kích thước 1,5 x 0,1cm.
+ Sẹo dẫn lưu hông trái kích thước 1,5 x 1.2cm.
+ Sẹo hông phải kích thước 1,5 x 01cm.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Tấn C là: 60%.
+ Vật gây thương tích: Vật sắc nhọn.
- Tại Bản Kết luận giám định Pháp y trên hồ sơ số 0733/GĐHS/2022 ngày 21/7/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đồng Nai kết luận: Vết thương hông phải kích thước 02cm, đứt cơ thành bụng, thủng xuyên 2 thành đại tràng ngang và thành trước tá tràng D3. Tổn thương này do vật sắc nhọn tác động vào vùng hông phải với lực vừa đủ theo hướng từ phải qua trái, từ ngoài vào trong và chếch từ trước ra sau gây nên.
Về dân sự: Đặng Đình T đã bồi thường cho anh Nguyễn Tấn C số tiền 50.000.000 đồng. Anh C tiếp tục yêu cầu T bồi thường thêm số tiền 30.000.000 đồng tiền công lao động phải nghỉ việc nhưng T chưa bồi thường. Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 590 Bộ luật Dân sự, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tuyên buộc Đặng Đình T bồi thường cho anh C theo quy định của pháp luật.
Tại Bản cáo trạng số 93/CT-VKS-P1 ngày 05/5/2023, Viện trưởng Viện kiẻm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tốTruy tố ra trước Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai để xét xử bị cáo: Đặng Đình T về tội “Giết người”, theo điểm n khoản 1 Điều 123 và Điều 15 (phạm tội chưa đạt) Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm,
- Đại diện Viện kiểm sát nân dân tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 14 (mười bốn) đến 16 (mười sáu) năm tù;
- Vị luật sư bào chữa cho bị cáo Đặng Đình T: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo là „Cố ý gây thương tích” chứ không phải phạm tội “Giết người” như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án:
Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 31/01/2022 tại ấp Bình L xã Lộc A, huyện L, tỉnh Đồng Nai, mặc dù không có mâu thuẫn với anh Nguyễn Tấn C nhưng Đặng Đình T đã dùng 01 con dao dài khoảng 15 cm, lưỡi dao bằng kim loại sắc nhọn đâm 01 cái vào hông phải của anh Nguyễn Tấn C gây tổn thương đứt cơ thành bụng, thủng xuyên 2 thành đại tràng ngang và thành trước tá tràng với tỷ lệ tổn thương cơ thể 60%.
Về tội danh:
Việc bị cáo dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm vào bụng là vùng trọng yếu chứa các tạng lớn và quan trọng có thể ảnh hưởng đến tính mạng của anh Nguyễn Tấn C. Việc anh Cường không chết là do khách quan và ngoài ý thức chủ quan của bị cáo. Theo hướng dẫn tại Án lệ số 47/2021/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 25/11/2021 và được công bố theo Quyết định số 594/QĐ-CA ngày 31/12/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo Đặng Đình T chịu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n (có tính chất côn đồ) thuộc khoản 1 Điều 123 và Điều 15 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 như Bản cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã viện dẫn.
Về tính chất, mức độ hành vi: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hộ i; xâm phạ m tính mạng sức khỏa người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú; đã tự nguyện bồi thường và được bị hại có Đơn bãi nại. Những tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại điể m b, s khoản 1, khoản 2 Điề u 51 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015 đượ c sử a đổ i bổ sung năm 2017 và được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về trách nhiẹm dân sự: Tại cơ quan điều tra, bị cáo Đặng Đình Thắng đã bồi thường cho anh Nguyễn Tấn C số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng). Tại phiên tòa sơ thẩm, anh Cường tiếp tục yêu cầu T bồi thường thêm số tiền 30.000.000 đồng tiền công lao động phải nghỉ việc, tiền bồi dưỡng sức khỏe do bị thương tích đến 60% (đến nay vẫn chưa ổ định sức khỏe). Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 590 Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu bồi thường phù hợp một phần nên buộc bị cáo Đặng Đình Thắng phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Nguyễn Tấn C số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng)
Về án phí: Bị cáo Đặng Đình T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo do có hoàn cảnh gia đình khó khăn.
Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, bị cáo và người bào chữa cho bị cáo, người tham gia tố tụng khác đã được Hội đồng xét xử thể hiện quan điểm như trên đã phân tích.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 15 Bộ luật Hình sự Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Án lệ số 47/2021/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 25/11/2021 và được công bố theo Quyết định số 594/QĐ-CA ngày 31/12/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
Xử phạt bị cáo Đặng Đình T 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 30/6/2022.
2. Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 590 Bộ luật Dân sự,
Buộc Đặng Đình Thắng bồi thường số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) cho anh Nguyễn Tấn C.
Kể từ ngà y có đơn yêu cầ u thi hành của người được thi hành (đố i vớ i cá c khoản tiền phải trả cho người được thi hành án ) cho đế n khi thi hà nh á n xong , bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mứ c lã i suấ t quy đị nh tạ i Điề u 357, Điề u 468 Bộ luậ t Dân sự năm 2015, trừ trườ ng hợ p phá p luậ t có quy đị nh khá c.
Ngườ i đượ c thi hà nh á n dân sự , ngườ i phả i thi hà nh á n dân sự có quyề n thỏ a thuậ n thi hà nh á n, quyề n yêu cầ u thi hà nh á n, tự nguyệ n thi hà nh á n hoặ c cưỡ ng chế thi hà nh á n theo quy đị nh tạ i cá c Điề u 6, 7, 7a và 9 Luậ t thi hà nh á n dân sự , thờ i hiệ u thi hà nh á n đượ c thự c hiệ n theo quy đị nh tạ i Điề u 30 Luậ t thi hà nh á n dân sự 2008 (đượ c sử a đổ i, bổ sung năm 2014).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đặng Đình T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Việ n kiể m sát nhân dâncấ p cao tạ i TP.HCM; - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM; - Việ n kiể m sá t nhân dân tỉ nh Đồ ng Nai; - Cơ quan cả nh sá t điề u tra Công an Đồ ng Nai; - Cơ quan thi hà nh á n hì nh sự tỉ nh Đồ ng Nai; - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồ ng Nai; - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Đồng Nai; - Sở Tư phá p tỉ nh Đồ ng Nai; - Bị cáo – Trại tạm giam B5; - Nhữ ng ngườ i tham gia tố tụ ng; - Lưu (4). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Phƣơng Đông |