vanban.org

Bản án 78/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Cao Bằng Tuyên án 13/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Dương Hải Đ và bị cáo Triệu Hải Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Dương Hải Đ 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt tại bản án số 92/2022/HSST ngày 14/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng là 03 tháng 14 ngày tù. Bị cáo phải chịu trách nhiệm thi hành 09 tháng 14 ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo đi trại… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Dương Hải Đ và bị cáo Triệu Hải Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dương Hải Đ và bị cáo Triệu Hải Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO BẰNG
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2023/HS-ST
Ngày: 09 -13/6/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Na

Các hội thẩm nhân dân:

1. Đinh Văn Hải

2. Bế Thị Hương – Nguyên Bí thư Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phường Duyệt Trung, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà Trưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Mã Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 48/2023/HSST ngày 16 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2023/QĐXXST-HS ngày 03/4/2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Dương Hải Đ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 30 thág 8 năm 2006 tại: thành phố Cao Bằng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 10/12. Nghề nghiệp: không nghề. Hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: tổ 09, phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Con ông: Dương Mạnh H - sinh năm 1978 (trú tại: tổ 09, phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng); Con bà: Đinh Thị Hương L - sinh năm 1979 (trú tại: tổ 09, phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng); Anh, chị, em ruột: là con út trong gia đình có 02 chị em. Vợ, Con: không; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo hiện đang chấp hành Quyết định thi hành án hình phạt cải tạo không giam giữ số 02/2022/QĐ-CA ngày 17/10/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/12/2022 đến nay; Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Triệu Hải Đ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 16 thág 10 năm 2006 tại: Thành phố Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Học sinh (Hộ khẩu thường trú và nơi ở: tổ 09, phường H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng); Con ông: Triệu Văn M - sinh năm 1980 (trú tại: tổ 09, phường H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng); Con bà: Nguyễn Thu H - sinh năm 1982 (trú tại: tổ 09, phường H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng); Anh, chị, em ruột: Bị cáo là con cả trong gia đình có 03 anh em. Vợ, Con: không. Tiền án; Tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/12/2022 đến nay; Có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Dương Hải Đ: Ông Dương Mạnh H – sinh năm 1978 và bà Đinh Thị Hương L – sinh năm 1979 (có mặt tại phiên tòa).

- Cùng trú tại: Tổ 09, phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Triệu Hải Đ: Triệu Văn M - sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thu H – sinh năm 1982; (có mặt tại phiên tòa).

Cùng trú tại: tổ 11, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

- Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Nông Văn Dự - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Cao Bằng; (có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Chị Trần Thị Vân T – sinh năm 1993; (Vắng mặt tại phiên tòa).

Trú tại: Tổ 09, phường H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

- Người làm chứng:

1. Dương Thị Thanh H – sinh năm 2004 (Vắng mặt tại phiên tòa).

Trú tại: Lũng Hảo, V, Nguyên Bình, Cao Bằng.

2. La Gia H – sinh năm 2006 (Vắng mặt tại phiên tòa).

Trú tại: Tổ 05, phường H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

3. Nông Thủy T – sinh năm 2005 (Vắng mặt tại phiên tòa).

Trú tại: Nà Vàng, L, Thạch An, Cao Bằng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt:

Ngày 19/11/2022 Công an thành phố Cao Bằng tiếp nhận đơn trình báo của Trần Thị Vân T (sinh năm 1993; hộ khẩu thường trú: tổ 09, phường H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng) về việc: Khoảng 20h00’ ngày 19/11/2022, T điều khiển xe máy điện nhãn hiệu ANBICO GOGO ONE màu xanh rêu và đỗ tại đường Hồng Việt thuộc tổ 12, phường Hợp Giang, thành phố Cao Bằng rồi đi ra phố đi bộ Kim Đồng; khoảng 40 (bốn mươi) phút sau T quay lại chỗ để xe, phát hiện chiếc xe máy điện đã bị mất nên trình báo cơ quan Công an giải quyết.

Sau khi tiếp nhận đơn trình báo, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng tiến hành xác minh, xác định được đối tượng Dương Hải Đ (sinh năm 2006; trú tại tổ 09, phường N, thành phố Cao Bằng) và Triệu Hải Đ (sinh năm 2006; trú tại tổ 11, phường S, thành phố Cao Bằng) đã thực hiện hành vi trộm cắp xe máy điện nói trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố đã tạm giữ của Dương Hải Đ 01 (một) áo phông màu đen có cổ bẻ, hai bên vai có họa tiết kẻ sọc đỏ, nâu, đen, trắng. Áo có gắn mác “BURBERRY” “LONDON ENGLAND”; 01 (một) quần bò màu đen, rách hai bên đầu gối. Tạm giữ của Triệu Hải Đ 01 (một) áo phông nam dài tay, màu xanh dương, trước ngực có ghi chữ “MOON SWING”, mác áo có ghi chữ “SVPIMA”; 01 (một) quần vải thể thao màu đen, bo chun cổ chân, quần áo cũ đã qua sử dụng. Ngày 21/11/2022 tạm giữ của Trần Thị Vân T 01 (một) xe máy điện nhãn hiệu ANBICO GO GO ONE màu xanh rêu, số khung 0684, số động cơ 0334, xe cũ đã qua sử dụng và 01 (một) sổ bảo hành xe điện.

Ngày 23/11/2022, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng ban hành Yêu cầu định giá tài sản số 324 đối với tài sản bị trộm cắp. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 81/KL- HĐĐGTS ngày 29/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận giá trị tài sản là 12.496.283 đồng (mười hai triệu bốn trăm chín mươi sáu nghìn hai trăm tám mươi ba đồng).

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 19 giờ ngày 19/11/2022 Dương Hải Đ và Triệu Hải Đ, Dương Thị Thanh H (sinh năm 2004; trú tại tổ 06, phường Ngọc Xuân, thành phố Cao Bằng) đi xe máy điện của H đến đường Hồng Việt và để xe tại đó rồi cùng nhau đi phố đi bộ Kim Đồng. Khoảng 20 giờ cùng ngày, Trần Thị Vân T điều khiển xe máy nhãn hiệu ANBICO GOGO ONE đến đường Hồng Việt và để xe (có chiếc khóa ở ổ khóa) trước cửa hàng Tùng Lâm rồi đi ra phố đi bộ Kim Đồng. Một lúc sau, Dương Hải Đ, Triệu Hải Đ và H quay về đường Hồng Việt để lấy xe, khi đi qua khu vực để xe của Trần Thị Vân T, Triệu Hải Đ phát hiện chiếc xe máy điện đang cắm chìa ở ổ khóa và không có ai quản lý nên đã nói với Dương Hải Đ và cả hai thống nhất sẽ lấy trộm chiếc xe máy điện đó. Sau đó Dương Hải Đ bảo H đi mua khẩu trang và cả ba cùng đi đến hiệu thuốc tại đường Xuân Trường để mua khẩu trang rồi quay lại khu vực gần Ngân hàng BIDV thành phố Cao Bằng. Tại đây, Dương Hải Đ bảo H đi về trước còn Dương Hải Đ và Triệu Hải Đ sẽ về sau. Dương Hải Đ và Triệu Hải Đ đeo khẩu trang, đi bộ vào đường Hồng Việt đến vị trí để xe của T. Dương Hải Đ dắt xe ra khỏi vị trí và điều khiển xe, Triệu Hải Đ ngồi phía sau rồi cả hai đi đến Nghĩa trang Thanh Sơn (thuộc tổ 11, phường S, thành phố Cao Bằng) và để xe máy điện ở đó rồi cùng nhau đi bộ về nhà Triệu Hải Đ. Cùng lúc đó H gọi điện cho Dương Hải Đ và đến nhà Triệu Hải Đ. Khi H đến nhà Triệu Hải Đ, Dương Hải Đ và H đi bộ đến Nghĩa trang Thanh Sơn để lấy xe, H hỏi chiếc xe này của ai thì Dương Hải Đ nói “đừng hỏi nhiều” và điều khiển xe chở H đến nhà Triệu Hải Đ rồi bảo H điều khiển chiếc xe này về nhà, còn xe máy điện của H để ở nhà Triệu Hải Đ. Đến tối ngày 20/11/2022, H và Dương Hải Đ đổi lại xe cho nhau và khoảng 01 giờ ngày 21/11/2022, Dương Hải Đ và Triệu Hải Đ mang chiếc xe máy điện trộm cắp được đến gửi ở nhà La Gia H (sinh năm 2006; trú tại Tổ 05, phường H, thành phố Cao Bằng) và nói đây là xe của bạn, gửi ở nhà H vài ngày.

Đến sáng ngày 21/11/2022, Nguyễn Thu H (là mẹ đẻ của Triệu Hải Đ) thấy bài đăng trên Facebook của Trần Thị Vân T đã nhận ra người trong ảnh là Dương Hải Đ và Triệu Hải Đ nên gọi điện cho Đinh Thị Hương L (là mẹ của Dương Hải Đ) để thông báo. Khoảng 16 giờ cùng ngày Dương Hải Đ và bố là Dương Mạnh H đến nhà La Gia H để lấy chiếc xe máy điện rồi cùng Triệu Hải Đ đem trả lại chiếc xe máy điện cho Trần Thị Vân T.

Hành vi của các bị cáo Dương Hải Đ và Triệu Hải Đ đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố trước pháp luật về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại bản cáo trạng số: 54/CT-VKSTP ngày 16/3/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng đã truy tố các bị cáo Dương Hải Đ và Triệu Hải Đ về tội "Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố: hành vi của các bị cáo Dương Hải Đ và Triệu Hải Đ đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản”.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng truy tố.

Các vấn đề khác của vụ án:

Quá trình điều tra xét thấy việc trả lại vật chứng không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên ngày 16/01/2023 cơ quan điều tra đã trả 01 (một) xe máy điện nhãn hiệu ANBICO GOGO, số loại GO GO ONE, màu xanh rêu, số động cơ 0334, số khung 0684 và 01 (một) sổ bảo hành theo xe cho chủ sở hữu là chị Trần Thị Vân T. Chị Trang không yêu cầu các bị cáo bồi thường và có đơn xin miễn giảm trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 56, Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 104 đối với bị cáo Dương Hải Đ. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36, Điều 90, Điều 91, Điều 100 Bộ luật Hình sự, tuyên bố các bị cáo Dương Hải Đ và Triệu Hải Đ phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Dương Hải Đ từ 04 tháng đến 06 tháng tù và tổng hợp hình phạt đối với thời gian bị cáo chưa thi hành án theo Bản án số 92/2022/HSST ngày 14/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng.

Xử phạt bị cáo Triệu Hải Đ từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.

Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo phông màu đen có cổ bẻ, hai bên vai có họa tiết kẻ sọc đỏ, nâu, đen, trắng. Áo có gắn mác “BURBERRY” “LONDON ENGLAND”; 01 (một) quần bò màu đen, rách hai bên đầu gối; 01 (một) áo phông nam dài tay, màu xanh dương, trước ngực có ghi chữ “MOON SWING”, mác áo có ghi chữ “SVPIMA”; 01 (một) quần vải thể thao màu đen, bo chun cổ chân, quần áo cũ đã qua sử dụng.

Người bào chữa cho các bị cáo phát biểu quan điểm bào chữa: Nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng đã truy tố đối với hai bị cáo, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã nhận thức được hành vi sai trái và tỏ ra ăn năn hối hận, trả lại tài sản cho người bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các quy định pháp luật khi xét xử vụ án liên quan đến người chưa thành niên phạm tội. Đối với bị cáo Triệu Hải Đ, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị; đối với bị cáo Dương Hải Đ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội cải tạo, giáo dục trở thành công dân có ích và cũng thể hiện được chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người chưa thành niên phạm tội.

Trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của bản thân, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất, bị cáo Dương Hải Đ đề nghị được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tội danh và các yếu tố cấu thành tội phạm:

Về mặt khách quan: Khoảng 20 giờ ngày 19/11/2022 tại đường Hồng Việt thuộc tổ 12, phường Hợp Giang, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Dương Hải Đ và Triệu Hải Đ đã thực hiện hành vi trộm cắp xe máy điện nhãn hiệu ANBICO GOGO của Trần Thị Vân T nhằm mục đích đem bán lấy tiền phục vụ nhu cầu sinh hoạt của bản thân. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 12.496.283 đồng (mười hai triệu bốn trăm chín mươi sáu nghìn hai trăm tám mươi ba đồng).

Về mặt chủ quan: Để thỏa mãn mục đích tiêu xài cá nhân, các bị cáo đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của công dân. Các bị cáo biết xâm phạm đến tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác là vi phạm nhưng vì lòng tham nên các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp.

Về mặt khách thể: Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ.

Về mặt chủ thể: Căn cứ vào quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự, các bị cáo là người trên 16 tuổi, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình gây ra.

Từ những phân tích trên đây, hành vi của các bị cáo Dương Hải Đ và Triệu Hải Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản". Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng truy tố các bị cáo Dương Hải Đ và Triệu Hải Đ theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tại khoản 1 Điều 173 - Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...”

. Xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo:

Qua xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo Triệu Hải Đ có nhân thân tốt. Bị cáo Dương Hải Đ đang chấp hành Quyết định thi hành án hình phạt cải tạo không giam giữ số 02/2022/QĐ-CA của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng nhưng bị cáo vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Dương Hải Đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt nên cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Triệu Hải Đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Triệu Hải Đ không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Dương Hải Đ không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử nhận định: Bị cáo Triệu Hải Đ phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội.

Đối với bị cáo Dương Hải Đ đang thi hành án hình phạt cải tạo không giam giữ lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội “trộm cắp tài sản” với trị giá 12.496.283 đồng của người bị hại. Trong vụ án, bị cáo là người khởi xướng rủ bị cáo Triệu Hải Đ thực hiện hành vi phạm tội để tiêu xài cá nhân. Bị cáo không thuộc trường hợp xóa án tích của người chưa thành niên theo quy định tại Điều 107 Bộ luật hình sự. Do đó, việc áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù cho hưởng án treo như người bào chữa đề nghị là không đảm bảo đúng quy định của hướng dẫn Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về Điều 65 Bộ luật hình sự do bị cáo đang chấp hành bản án có hiệu lực nhưng phạm tội mới. Cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo cải tạo, giáo dục. Mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng đề nghị là phù hợp, cần được chấp nhận.

Bên cạnh đó, Hội đồng xét xử phải tiến hành tổng hợp hình phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Dương Hải Đ theo bản án số 92/2022/HSST ngày 14/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng. Quyết định thi hành án hình phạt cải tạo không giam giữ số 02/2022/QĐ-CA ngày 17/10/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng được giao cho Ủy ban nhân dân phường Ngọc Xuân, thành phố Cao Bằng ngày 28/10/2022, đây là thời hạn để tính thời gian chấp hành cải tạo không giam giữ của bị cáo. Đến ngày 13/6/2023 bị cáo đã chấp hành được 07 tháng 16 ngày, bị cáo còn phải chấp hành 10 tháng 14 ngày cải tạo không giam giữ. Quy đổi 03 ngày cải tạo không giam giữ bằng 01 ngày tù, như vậy bị cáo còn phải thi hành 03 tháng 14 ngày tù.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo là người chưa thành niên, không có thu nhập. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

. Đánh giá về vai trò đồng phạm: Hội đồng xét xử nhận định các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ trước khi thực hiện hành vi phạm tội. Do phát hiện sơ hở trong quản lý tài sản của người bị hại nên các bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp tài sản và cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội.

. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xem xét, giải quyết.

. Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án là bộ quần áo của các bị cáo khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, quần áo đã qua sử dụng và cũ, cần được tịch thu tiêu hủy.

. Các vấn đề khác của vụ án:

Quá trình điều tra xét thấy việc trả lại vật chứng không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên ngày 16/01/2023 cơ quan điều tra đã trả 01 (một) xe máy điện nhãn hiệu ANBICO GOGO, số loại GO GO ONE, màu xanh rêu, số động cơ 0334, số khung 0684 và 01 (một) sổ bảo hành theo xe cho chủ sở hữu là chị Trần Thị Vân T là đúng quy định pháp luật.

. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại được kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Dương Hải Đ và bị cáo Triệu Hải Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 56, Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 104 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Dương Hải Đ 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt tại bản án số 92/2022/HSST ngày 14/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng là 03 tháng 14 ngày tù. Bị cáo phải chịu trách nhiệm thi hành 09 tháng 14 ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo đi trại chấp hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36, Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 100 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Triệu Hải Đ 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Hợp Giang, thành phố Cao Bằng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành cải tạo không giam giữ được tính kể từ ngày Ủy ban nhân dân phường Hợp Giang, thành phố Cao Bằng nhận được Bản án và Quyết định Thi hành án. Bị cáo được miễn khấu trừ thu nhập trong thời gian cải tạo không giam giữ và bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Luật thi hành án hình sự.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ Luật hình sự, tuyên xử:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo phông màu đen có cổ bẻ, hai bên vai có họa tiết kẻ sọc đỏ, nâu, đen, trắng. Áo có gắn mác “BURBERRY” “LONDON ENGLAND”; 01 (một) quần bò màu đen, rách hai bên đầu gối; 01 (một) áo phông nam dài tay, màu xanh dương, trước ngực có ghi chữ “MOON SWING”, mác áo có ghi chữ “SVPIMA”; 01 (một) quần vải thể thao màu đen, bo chun cổ chân, quần áo cũ đã qua sử dụng. Xác nhận các vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/3/2023.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Buộc bị cáo Dương Hải Đ và bị cáo Triệu Hải Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo, người bào chữa, người đại diện hợp pháp cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ