vanban.org

Bản án 78/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 21/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm g Khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Hồng L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm g Khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2023/HS-ST
Ngày: 21-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH Đ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thịnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Liệu

2. Bà Lương Thanh Kỳ

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Đ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Đức – Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đ, Toà án nhân dân huyện Đ mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 84/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2023. Đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1995 tại Bình Phước.

Nơi cư trú: ấp 8, xã Gia Canh, huyện Đ, tỉnh Đ.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông ông Nguyễn văn Lâm, sinh năm 1954 con bà Đinh Thị Lai, sinh năm 1957 (đã chết). anh chị em ruột: bị cáo là con duy nhất trong gia đình; chồng: không có. Có 01 người con sinh năm 2022.

Tiền án: 03

- Ngày 09/12/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đ xử phạt 08 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 28/6/2016.

- Ngày 09/02/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đ xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 21/10/2018.

- Ngày 14/8/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đ xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 30/01/2021.

Tiền sự: Không

Bị khởi tố và áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” ngày 19/01/2023 cho đến nay (có mặt).

Bị hại: Chị Hồ Sương P, sinh năm 1983 (có mặt)

Địa chỉ: Số 2, phố 2, ấp 2, xã Phú Vinh, huyện Đ, tỉnh Đ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Trần Đình T, sinh năm 1982 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 3, xã Phú lộc huyện Tân Phú, tỉnh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Hồng L có 03 tiền án, trong đó có 01 tiền án về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích.

Vào khoảng 08 giờ ngày 17/9/2022, Nguyễn Thị Hồng L điều khiển xe mô tô biển số 63B9-073.71 đi đến tiệm tạp hóa của chị Hồ Sương P ở ấp 2, xã Phú Vinh, huyện Đ để mua đồ dùng cá nhân. Khi đến tiệm tạp hóa, L hỏi mua đồ dùng rồi đi vào bên trong cửa hàng để lựa đồ còn chị P đi ra phía trước cửa tiệm để bán hàng cho khách. Tại đây, L nhìn thấy có 01 điện thoại di dộng hiệu Samsung Galaxy A52S màu tím của chị P để trên quầy tính tiền; lợi dụng khi không có ai để ý, L lén lút lấy điện thoại di động trên bỏ vào túi quần, đi ra ngoài tính tiền mua hàng rồi điều khiển xe mô tô rời khỏi hiện trường. Cùng ngày, L mang điện thoại trộm cắp được đến tiệm điện thoại “Hiệp Thảo” ở gần chợ Năm Rưỡi thuộc ấp 3, xã Phú Lộc, huyện Tân Phú, tỉnh Đ bán với giá 3.000.000 đồng. Số tiền thu được, L đã tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi nhận được tin báo của chị P, Cơ quan Công an đã trích xuất camera phát hiện và mời L về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Hồng L đã khai nhận hành vi như đã nêu trên.

Trị giá Tài sản thiệt hại:

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A52s màu tím, bên trong điện thoại có chứa 01 thẻ sim 0394.641.749 (hiện chưa thu hồi được).

Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ ngày 24/10/2022 kết luận tổng giá trị tài sản thiệt hại là 4.1750.000 đồng.

Cáo trạng số: 55/CT-VKSĐQ ngày 05 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Đ truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hồng L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ thực hiện quyền công tố đã luận tội, tranh luận; phân tích dấu hiệu phạm tội; đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đặc điểm nhân thân của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hồng L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng L từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự:

Chị Hồ Sương P yêu cầu Nguyễn Thị Hồng L bồi thường 6.000.000 đồng. Bị cáo L đã đồng ý nhưng chưa bồi thường cho chị P số tiền trên. Vì vậy buộc Nguyễn Thị Hồng L phải có trách nhiệm bồi thường cho chị P số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng).

Các vấn đề khác:

- 01 xe mô tô biển số 63B9-073.71, do chưa làm việc được với chủ sở hữu nên Cơ quan điều tra công an huyện Đ tiếp tục xác minh xử lý sau.

Đối với anh Trần Đình T, sinh năm 1982, trú tại ấp 3, xã Phú Lộc, huyện Tân Phú, tỉnh Đ là chủ tiệm điện thoại “Hiệp Thảo”. Quá trình điều tra xác định anh Thái không xác định có việc mua bán điện thoại di động Samsung Galaxy A52s với Nguyễn Thị Hồng L hay không nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý đối với anh Thái.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo trình bày ý kiến: Cáo trạng nêu hành vi phạm tội của bị cáo là đúng, bị cáo không có ý kiến đối với nội dung bản cáo trạng. Bị cáo thấy hành vi của bị cáo là sai. Bị cáo không có ý kiến tranh luận tại phiên tòa, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác. Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Vào khoảng 08 giờ ngày 17/9/2022, tại tiệm tạp hóa của chị Hồ Sương P ở ấp 2, xã Phú Vinh, huyện Đ, Nguyễn Thị Hồng L đã trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A52s của chị P trị giá 4.1750.000 đồng nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, biên bản hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.

Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở xác định, hành vi của bị cáo L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng số: 55/CT-VKSĐQ ngày 05 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo tội danh và khung hình phạt như trên là đúng người, đúng tội không oan sai cho bị cáo.

Căn cứ quyết định hình phạt:

Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần xử lý bị cáo theo pháp luật hình sự là cần thiết và tuyên mức án tương xứng với tính chất, mức độ mà hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục pháp luật cho bị cáo trở thành người công dân tốt cho xã hội, đảm bảo công tác phòng ngừa tội phạm tại địa phương.

Xét các yếu tố về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo đã nhiều lần bị xét xử (03 lần nhưng chưa được xoá án tích), lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm đây là tình tiết định khung tăng nặng nên không xem xét là tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Người bị hại làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Bị cáo hiện nuôi 01 con dưới 36 tháng tuổi là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về các biện pháp tư pháp:

Về trách nhiệm dân sự: Chị Hồ Sương P yêu cầu Nguyễn Thị Hồng L bồi thường 6.000.000 đồng. Bị cáo L đã đồng ý nhưng chưa bồi thường cho chị P số tiền trên. Vì vậy buộc Nguyễn Thị Hồng L phải có trách nhiệm bồi thường cho Chị P số tiền 6.000.000 đồng.

Các vấn đề khác:

- Đối với số tiền 3.000.000đ bị cáo có được do bán điện thoại Samsung Galaxy A52s của chị P, tài sản không thu hồi được, bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Do vậy bị cáo phải bồi thường trách nhiệm dân sự đối với giá trị tài sản trên, nên không truy thu số tiền trên.

- 01 xe mô tô biển số 63B9-073.71, do chưa làm việc được với chủ sở hữu nên giao Cơ quan điều tra Công an huyện Đ tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với anh Trần Đình T, sinh năm 1982, trú tại ấp 3, xã Phú Lộc, huyện Tân Phú, tỉnh Đ là chủ tiệm điện thoại “Hiệp Thảo”, quá trình điều tra xác định anh Thái không xác định có việc mua bán điện thoại di động Samsung Galaxy A52s với Nguyễn Thị Hồng L hay không nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý đối với anh Thái là có căn cứ .

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm g Khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự.

- Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1.Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Hồng L phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho chị Hồ Sương P số tiền là 6.000.000đ (sáu triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357 và 468 Bộ luật Dân sự , trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3.Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ