- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trầm Ngọc S phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật h nh sự; Điều 134 Bộ luật h nh sự; Điều 355 Bộ luật tố t ng h nh sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2023/HS-PT Ngày: 27-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh
Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng
Ông Phạm Minh Tùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Liệt - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2023 tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp m phiên tòa t ử công khai v án h nh sự phúc thẩm th lý số: 21/2023/TLPT-HS ngày 01 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo Trần Ngọc S. Do c kháng cáo của bị cáo Trần Ngọc S đối với bản án h nh sự sơ thẩm số: 54/2022/HS-ST ngày 09 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện L.
- cáo c hán cáo Trần Ngọc S, sinh năm 1989, tại tỉnh An Giang; đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Ấp A, ã H, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; Tr nh độ học vấn: 8/12; Quốc tịch: V; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông: Trần Ngọc G và bà: Trần Lệ H; vợ tên: Lâm Cẩm T; có 02 con, sinh năm 2014 và sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; C đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/9/2022; Bị cáo đang tại ngoại, c mặt tại phiên tòa.
Tron
án còn c
h i h n hán cáo
i n i m át h n hán n h
NỘI DUNG V ÁN:
Theo các tài liệu c trong hồ sơ v án và diễn bi n tại phiên tòa, nội dung v án được t m tắt như sau:
Trần Ngọc S và Dương Trung H1 là bạn làm chung tổ dịch v tạo h nh cá (sửa cá) tại Công ty S1. Quá tr nh làm việc cùng nhau c ảy ra mâu thuẫn, cự cãi giữa S và H1.
Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 21/7/2022, S điện thoại cho H1 nói “Trong công việc mày n i chuyện quạo quọ, kh dễ với anh em, coi chừng c ngày bị người ta đánh C.M”. H1 hỏi S “Mày đang đâu?” S trả lời “Tao đang ngồi quán C1 nè”. Đ n khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, H1 chạy e đ n quán C1 thuộc ấp A, ã B, huyện L gặp S để n i chuyện. Khi đ n quán cà phê, S và H1 có lời qua ti ng lại, giằng co nhau. S dùng tay nắm lại thành nắm đấm, đấm vào người H1 nhưng không trúng nên đẩy Hậu ra và chạy đ n nơi e của S đang đậu cách đ khoảng 05m, H1 cũng chạy theo sau. S m cốp e lấy ra 01 con dao (loại dao dùng để sửa cá) c đặc điểm cán và lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, cán dao dài 11,8cm, lưỡi dao dài 22cm, đường kính cán dao 01cm, lưỡi dao rộng 3,5cm, trên cán dao c chữ “S”, rồi cầm dao bằng tay phải chạy lại đứng đối diện với H1, cách Hậu khoảng 50cm, cả hai giằng co với nhau, S vung dao chém từ trên uống, H1 giơ tay trái bắt lấy con dao của S, làm cho lòng bàn tay trái của Hậu bị thương, máu chảy ra nhiều. Thấy vậy S cầm con dao lên e chạy đi về nhà, còn H1 được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đ đ n ngày 26/7/2022 th uất viện về nhà. Ngày 02/8/2022, S mang con dao là hung khí gây thương tích cho H1 đ n giao nộp cho Công an xã B.
Ngày 21/9/2022, Cơ quan điều tra ti n hành cho S và H1 nhận dạng con dao. K t quả S và H1 nhận dạng và ác định con dao c đặc điểm cán và lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, cán dao dài 11,8cm, lưỡi dao dài 22cm, đường kính cán dao 01cm, lưỡi dao rộng 3,5cm mà S giao nộp cho Công an xã B ngày 02/8/2022 là con dao mà S dùng làm hung khí gây thương tích cho H1.
Tại bản K t luận giám định pháp y về thương tích số: 282/TgT ngày 30/8/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ k t luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Dương Trung H1 do thương tích gây nên hiện tại là 23% tại thời điểm giám định. K t luận khác:
- Sẹo mỗ do quá tr nh điều trị.
- Các tổn thương còn lại do vật sắc b n gây ra.
- Cơ ch h nh thành v t thương do ngoại lực tác động trực ti p gây ra.
- Chiều hướng h nh thành tổn thương từ trên uống dưới, từ ngoài vào trong.
Bị cáo S đã thoả thuận bồi thường cho bị hại H1 tổng số tiền là 40.000.000 đồng và được bị hại làm đơn bãi nại, không yêu cầu ử lý h nh sự đối với bị cáo S.
Tại bản án h nh sự sơ thẩm số: 54/2022/HS-ST ngày 09 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện L đã quy t định:
Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc S đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp d ng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật h nh sự. Xử phạt bị cáo Trần Ngọc S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành h nh phạt tù.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về ử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 20 tháng 12 năm 2022, bị cáo Trần Ngọc S c yêu cầu kháng cáo với nội dung in giảm nhẹ h nh phạt và in hư ng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm cho rằng cấp sơ thẩm đã t ử bị cáo Trần Ngọc S với tội danh, điều khoản của tội danh và mức h nh phạt nêu trên là c căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Án sơ thẩm đã em t nhân thân cũng như các t nh ti t tăng nặng và giảm nhẹ đối với bị cáo. Bị cáo kháng cáo in giảm nhẹ h nh phạt và in hư ng án treo, c cung cấp ác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đ nh của bị cáo kh khăn, cha mẹ cao tuổi, con còn nhỏ. Tuy nhiên, t mức án mà cấp sơ thẩm đã áp d ng đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp và đã áp d ng mức h nh phạt dưới khung. Do đ , đề nghị Hội đồng t ử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Ngọc S, giữ nguyên phần Quy t định của bản án sơ thẩm về h nh phạt đối với bị cáo.
Bị cáo Trần Ngọc S không tranh luận. Lời n i sau cùng, bị cáo in Hội đồng t ử em t cho bị cáo được hư ng án treo để lo cho gia đ nh.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng t ử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Ngọc S đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của m nh. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá tr nh điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác trong hồ sơ v án, đủ cơ s để ác định: Do c mâu thuẫn trong quá tr nh làm việc chung với bị hại Dương Trung H1 nên vào khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 21/7/2022, sau khi hai bên cự cải, giằng co với nhau th bị cáo đã dùng con dao (loại dao sửa cá) ch m 01 cái từ trên uống trúng vào lòng bàn tay trái của người bị hại H1 gây thương tích với tỷ lệ thương tật là 23%, tại thời điểm giám định.
[2] Hội đồng t ử t thấy hành vi của bị cáo Trần Ngọc S là nguy hiểm cho ã hội đã âm phạm đ n sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật. Bị cáo là người đã thành niên, c thể chất, tinh thần phát triển b nh thường, c khả năng điều khiển hành vi, giao ti p ã hội, nhận thức được pháp luật, c đủ năng lực chịu trách nhiệm h nh sự theo quy định. Xuất phát từ mâu thuẫn trong công việc mà bị cáo đã dùng con dao bằng kim loại, lưỡi sắc b n ch m anh H1 gây thương tích. Bị cáo nhận thức được con dao, loại dao dùng sửa cá là hung khí nguy hiểm, nhận thức được việc dùng con dao này ch m vào cơ thể người khác là sẽ gây thương tích, là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện và hậu quả đã ảy ra làm cho bị hại H1 bị thiệt hại về sức khỏe với tỷ lệ thương tật tại thời điểm giám định là 23%; chứng tỏ việc phạm tội của bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã t ử bị cáo Trần Ngọc S về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật H nh sự là c căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo kháng cáo in giảm nhẹ h nh phạt và in hư ng án treo, c cung cấp ác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đ nh của bị cáo đang gặp kh khăn, c cha mẹ cao tuổi, con còn nhỏ. Đây là t nh ti t giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật h nh sự mà cấp sơ thẩm chưa em t cho bị cáo. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm đã em t nhân thân cũng như các t nh ti t giảm nhẹ đối với bị cáo và đã áp d ng mức h nh phạt dưới khung cho bị cáo. Mặt khác, t nh ti t mới mà bị cáo cung cấp cũng không phải là điều kiện để cho bị cáo được hư ng án treo theo luật định. Do đ , Hội đồng t ử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Ngọc S, giữ nguyên phần Quy t định của bản án sơ thẩm về h nh phạt đối với bị cáo.
[4] X t đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Trần Ngọc S là hoàn toàn c căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đồng t ử chấp nhận.
[5] Do kháng cáo của bị cáo Trần Ngọc S không được chấp nhận nên bị cáo Trần Ngọc S phải chịu án phí h nh sự phúc thẩm theo luật định.
Các phần khác của quy t định bản án sơ thẩm không c kháng cáo, kháng nghị c hiệu lực kể từ ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
V các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố t ng h nh sự.
Không chấp nhận kháng cáo in giảm nhẹ h nh phạt và in được hư ng án treo của bị cáo Trần Ngọc S. Giữ nguyên quy t định của bản án h nh sự sơ thẩm về h nh phạt đối với bị cáo Trần Ngọc S.
2. Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật h nh sự.
Xử phạt bị cáo Trần Ngọc S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành h nh phạt tù.
3. Về án phí: Áp d ng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố t ng h nh sự;
Buộc bị cáo Trần Ngọc S phải chịu 200.000 đồng án phí h nh sự phúc thẩm.
4. Các phần khác của quy t định bản án sơ thẩm không c kháng cáo, kháng nghị c hiệu lực kể từ ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC (V GĐKT 1); - VKSND Tỉnh; - Ban nội chính Tỉnh ủy; - S Tư pháp Tỉnh; - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh; - TAND huyện L (03 bản); - VKSND huyện L; - Chi c c THADS huyện L; - Cơ quan CSĐT CA huyện L; - Cơ quan THAHS CA huyện L; - Phòng hồ sơ nghiệp v Công an Tỉnh; - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh; - Bị cáo; - Lưu VT, HSVA, (M). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Khắc Thịnh |