vanban.org

Bản án 78/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Mỹ N đối với anh Nguyễn Thanh V.

Về hôn nhân: Chị Đinh Thị Mỹ N được ly hôn với anh Nguyễn Thanh V. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN GIỮA CHỊ N VỚI ANH V"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Mỹ N đối với anh Nguyễn Thanh V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN TỊNH
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 25 - 5- 2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TỊNH, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thượng Trọng Ký

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Ông Nguyễn Thanh Hải;

2- Ông Lữ Xuân Ánh;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga- là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Thúy- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 60/2023/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 17/4/2023 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 260/TB-TA ngày 05/5/2023, giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Mỹ N, sinh năm 1992 ;

Địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện A, tỉnh Bình Định.

2- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh V, sinh năm 1992 .

Hộ khẩu TT: Thôn T, xã A, huyện A, tỉnh Bình Định.

Địa chỉ nơi ở hiện nay: Đội 10, thôn B, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.

Đương sự đều có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 02- 02- 2023, trong quá trình giải quyết vụ án chị N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Thanh V trước khi kết hôn có tìm hiểu tự nguyện và yêu thương nhau, không ai ép buộc và tổ chức đám cưới vào năm 2017, có đăng ký kết hôn vào ngày 18 tháng 9 năm 2017 tại Ủy ban nhan dân xã A, huyện A, tỉnh Bình Định. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc từ đó đến cuối năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm sống và hiện nay đã ly thân gần 06 năm nay, phần ai nấy sống, không ai quan tâm ai. Mặc dù đã nhiều lần giải quyết để hàn gắn tình cảm nhưng không thể hàn gắn lại được.

Nay, Chị thấy tình cảm giữa Chị và anh V không còn. Chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh giải quyết cho Chị được ly hôn với anh V để ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con là Nguyễn Hoàng Khánh M, sinh ngày 31 tháng 5 năm 2017. Con hiện nay do chị N đang trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn Chị yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con, không yêu cầu anh V cấp dưỡng cho con.

- Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ ai và cũng không có ai nợ vợ chồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Thành V trình bày:

- Về hôn nhân: Anh đồng ý Tòa án giải quyết cho chị N được ly hôn với Anh.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con là Nguyễn Hoàng Khánh M, sinh ngày 31 tháng 5 năm 2017. Con hiện nay do chị N đang trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn anh đồng ý giao cho chị N được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con, anh V không cấp dưỡng cho con.

- Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ ai và cũng không có ai nợ vợ chồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi phát biểu:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân và Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quy định tại Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 21, khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 147, 238 và 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N:

+ Về hôn nhân: Chị N được ly hôn với anh V.

+ Về con chung: Giao cho chị N được trực tiếp nuôi dưỡng con Nguyễn Hoàng Khánh M, sinh ngày 31 tháng 5 năm 2017, anh Vi không cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa các bên là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Căn cứ theo quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về hôn nhân: Chị N và anh V tự tìm hiểu rồi kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện A, tỉnh Bình Định. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị N có yêu cầu ly hôn, Tòa án thụ lý giải quyết theo thủ tục chung là đúng quy định.

[3] Xét yêu cầu ly hôn của chị N, Hội đồng xét xử xét thấy: Anh, Chị sống không hợp nhau, có nhiều mâu thuẫn, không cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình được và hiện nay chị N với anh V đã sống ly thân phần ai nấy sống nhiều năm qua. Xét thấy, mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay, chị N không còn tình cảm và cương quyết ly hôn với anh V và anh V cũng đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N đối với anh V là phù hợp theo quy định tại các Điều 51 và 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Xét thấy chị N và anh V có 01 con tên là Nguyễn Hoàng Khánh M, sinh ngày 31 tháng 5 năm 2017. Con hiện nay do chị N đang trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị N có yêu cầu nuôi con và anh V cũng đồng ý giao cho chị N được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con, anh V không cấp dưỡng cho con. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con nên cần giao cho chị N được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con là phù hợp với các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

[5] Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.

[6] Về nợ chung: Đương sự khai không có, nên không xem xét.

[7] Về án phí: Chị Đinh Thị Mỹ N nộp để sung công quỹ Nhà nước 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm phần ly hôn theo quy định.

[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 147, 238 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Mỹ N đối với anh Nguyễn Thanh V.

1. Về hôn nhân: Chị Đinh Thị Mỹ N được ly hôn với anh Nguyễn Thanh V.

2. Về con chung:

Giao cho chị Đinh Thị Mỹ N được trực tiếp nuôi dưỡng con Nguyễn Hoàng Khánh M, sinh ngày 31 tháng 5 năm 2017, anh Nguyễn Thanh V không cấp dưỡng cho con.

Sau khi ly hôn, bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp có yêu cầu của một bên, cả hai bên hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng cho con.

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con, thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.

4. Về nợ chung: Đương sự khai không có, nên không xem xét.

5. Về án phí:

Chị Đinh Thị Mỹ N nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003955 ngày 14-02-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.

6. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ