vanban.org

Bản án 78/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Tuyết N.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Tuyết N được ly hôn với ông Phạm Hồng H. Quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị Tuyết N ông Phạm Hồng H theo giấy chứng nhận kết hôn số 72/2012, quyển I ngày 14/12/2012 do Ủy ban nhân dân xã F cấp chấm dứt kể từ ngày Bản án này có hiệu lực pháp luật. 2/ Về con chung: Giao … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa bà N với ông Ha"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Tuyết N.
  • Căn cứ chính? Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG PHÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 13 - 11 - 2023
V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Thái Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thạch Hoàng Tha.

2. Ông Nguyễn Thanh Rực.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Bà Lê Hồng Như - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 132/2023/TLST-HNGĐ, ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Tuyết N, sinh năm 1983;

Nơi cư trú: Ấp A, xã B, thị trấn C, huyện D, tỉnh Sóc Trăng (có mặt);

- Bị đơn: Ông Phạm Hồng H, sinh năm 1977;

Nơi cư trú: Ấp E, xã F, huyện G, tỉnh Sóc Trăng – Chỗ ở hiện nay: Ấp K, thị trấn H, huyện G, tỉnh Sóc Trăng (có mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 08/9/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Tuyết N trình bày:

Bà Lê Thị Tuyết N cùng ông Phạm Hồng H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã F, huyện G, tỉnh Sóc Trăng. Việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng bà Lê Thị Tuyết N cùng ông Phạm Hồng H được Ủy ban nhân dân xã F cấp giấy chứng nhận kết hôn số 72/2012.

Bà Lê Thị Tuyết N xác định sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau hạnh phúc. Đến khoảng đầu năm 2015 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã. Việc xung đột gia đình đã xảy ra không thể hòa giải, hàn gắn được. Tình trạng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và vợ chồng đã sống ly thân đã được hai tháng nay.

Bà Lê Thị Tuyết N xác định vợ chồng có hai người con chung tên Phạm Ái M, sinh ngày 25/12/2012 và Phạm Công T, sinh ngày 17/11/2017, hiện đang sống cùng bà Lê Thị Tuyết N. Bà Lê Thị Tuyết N và ông Phạm Hồng H không có tài sản chung và nợ chung.

Nay Bà Lê Thị Tuyết N yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về hôn nhân: Bà Lê Thị Tuyết N yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Hồng H.

- Về con chung: Bà Lê Thị Tuyết N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Phạm Ái M, sinh ngày 25/12/2012 và Phạm Công T, sinh ngày 17/11/2017 và không yêu cầu ông Phạm Hống Hải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà Lê Thị Tuyết N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Lê Thị Tuyết N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện bà Lê Thị Tuyết N đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ gồm có:

+ Căn cước công dân tên Lê Thị Tuyết N (bản đối chiếu);

+ Trích lục khai sinh tên Phạm Công T, Phạm Ái M;

+ Giấy chứng nhận kết hôn;

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng cũng như hỗ trợ cho nguyên đơn trong việc gửi các tài liệu chứng cứ cho ông Phạm Hồng H và được ông Phạm Hồng H nhận trực tiếp. Tuy nhiên ông Phạm Hồng H không có văn bản trình bày ý kiến cũng như không đến Tòa án theo giấy triệu tập.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành ghi nhận ý kiến của cháu Phạm Ái M, sinh ngày 25/12/2012. Theo đó, cháu Phạm Ái M đã đưa ra nguyện vọng được sống cùng với mẹ khi cha mẹ ly hôn. Bên cạnh đó Tòa án đã tiến hành xác minh về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh tranh chấp và nguyện vọng của vợ chồng, con trong vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay,

* Nguyên đơn bà Lê Thị Tuyết N vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông Phạm Hồng H, yêu cầu nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung và nợ chung xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Phạm Hồng H trình bày: Xét thấy vợ chồng không có mâu thuẫn gì trầm trọng phải dẫn đến ly hôn nên ông muốn được hàn gắn tình cảm vợ chồng. Ông Phạm Hồng H không đồng ý ly hôn. Về con chung xác định theo trình bày của bà Lê Thị Tuyết N là đúng. Trong trường hợp ly hôn, ông Phạm Hồng H đồng ý giao con cho bà Lê Thị Tuyết N nuôi dưỡng đến khi thành niên theo yêu cầu của bà Lê Thị Tuyết N đưa ra. Đối với tài sản chung, ông Phạm Hồng H xác định không có, không tranh chấp và không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung, ông Phạm Hồng H xác định không có và không yêu cầu giải quyết.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn, bị đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 2 Điều 92, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Tuyết N đối với ông Phạm Hồng H. Giao con chung tên Phạm Ái M, sinh ngày 25/12/2012 và Phạm Công T, sinh ngày 17/11/2017 cho bà Lê Thị Tuyết N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên, ông Phạm Hồng H không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 08/9/2023, bà Lê Thị Tuyết N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Phạm Hồng H có nơi cư trú tại: Ấp E, xã F, huyện G, tỉnh Sóc Trăng – chỗ ở hiện nay: Ấp K, thị trấn H, huyện G, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Long Phú thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.

Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị Tuyết N về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Tuyết N cùng ông Phạm Hồng H kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã F cấp giấy chứng nhận kết hôn số 72/2012, quyển số I ngày 14/12/2012. Theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị Tuyết N và ông Phạm Hồng H là hợp pháp.

Theo trình bày của bà Lê Thị Tuyết N: Sau khi kết hôn bà Lê Thị Tuyết N chung sống bên gia đình chồng tại ấp Phú Thứ, xã F. Cuộc sống hạnh phúc đến tháng 7 năm 2023 thì sống ly thân cho đến nay. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Hội đồng xét xử xét thấy rằng trong quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Hồng H không có ý kiến hay phản đối những tình tiết, sự kiện trên. Đối chiếu với quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xác định đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Bà Lê Thị Tuyết N đã xác định cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, mâu thuẫn của vợ chồng không thể hàn gắn được và vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay. Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải để vợ chồng bà Lê Thị Tuyết N, ông Phạm Hồng H hàn gắn tình cảm, tuy nhiên ông Phạm Hồng H đều vắng mặt. Tại phiên tòa, đã tạo điều kiện để vợ chồng thỏa thuận hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nhưng bà Lê Thị Tuyết N không muốn được hàn gắn tình cảm vợ chồng với ông Phạm Hồng H. Vì vậy Tòa án không tổ chức được phiên hòa giải để các bên hàn gắn tình cảm vợ chồng. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Tuyết N cho bà Lê Thị Tuyết N được ly hôn với ông Phạm Hồng H.

Về thời điểm chấm dứt hôn nhân: Theo quy định tại khoản 1 Điều 57 của Luật hôn nhân dân đình quy định “Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật”. Do đó quan hệ hôn nhân theo Giấy chứng nhận kết hôn số 72/2012, quyển I ngày 14/12/2012 do Ủy ban nhân dân xã F cấp của bà Lê Thị Tuyết N và ông Phạm Hồng H sẽ chấm dứt khi Bản án này có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Bà Lê Thị Tuyết N, ông Phạm Hồng H cùng xác định thời gian chung sống, vợ chồng bà Lê Thị Tuyết N và ông Phạm Hồng H có hai người con chung tên Phạm Ái M, sinh ngày 25/12/2012 và Phạm Công T, sinh ngày 17/11/2017. Hiện nay con chung do bà Lê Thị Tuyết N, ông Phạm Hồng H cùng nuôi dưỡng. Việc này cũng hoàn toàn phù hợp với giấy khai sinh mang tên Phạm Ái M, sinh ngày 25/12/2012 và Phạm Công T, sinh ngày 17/11/2017 thể hiện là con chung của bà Lê Thị Tuyết N, ông Phạm Hồng H.

Xét ý kiến của bà Lê Thị Tuyết N về việc bà yêu cầu con chung tên Phạm Ái M, sinh ngày 25/12/2012 và Phạm Công T, sinh ngày 17/11/2017 hiện nay đang được bà Lê Thị Tuyết N, ông Phạm Hồng H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho bà Lê Thị Tuyết N tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên. Vấn đề này Hội đồng xét xử thấy rằng, trong quá trình giải quyết vụ án cháu Phạm Ái M đã có nguyện vọng sống cùng với mẹ và tại phiên tòa ông Phạm Hồng H đồng ý với yêu cầu nuôi con chung của bà Lê Thị Tuyết N đưa ra. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 giao cháu Phạm Ái M, sinh ngày 25/12/2012 và Phạm Công T, sinh ngày 17/11/2017 cho bà Lê Thị Tuyết N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lê Thị Tuyết N xác định hiện tại có nguồn thu nhập ổn định mỗi tháng nên đảm bảo cho việc nuôi và không cần ông Phạm Hồng H phải cấp dưỡng cho con chung và không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Bên cạnh đó ông Phạm Hồng H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở theo Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về tài sản chung: Bà Lê Thị Tuyết N, ông Phạm Hồng H xác định không có, không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Bà Lê Thị Tuyết N, ông Phạm Hồng H xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Đây là vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án do đó trong vụ án ly hôn nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Vì vậy bà Lê Thị Tuyết N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án ly hôn là 300.000 đồng.

Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bà Lê Thị Tuyết N, ông Phạm Hồng H có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú phát biểu tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các điều 235, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57, các điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Tuyết N.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Tuyết N được ly hôn với ông Phạm Hồng H. Quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị Tuyết N ông Phạm Hồng H theo giấy chứng nhận kết hôn số 72/2012, quyển I ngày 14/12/2012 do Ủy ban nhân dân xã F cấp chấm dứt kể từ ngày Bản án này có hiệu lực pháp luật.

2/ Về con chung: Giao con chung tên Phạm Ái M, sinh ngày 25/12/2012 và Phạm Công T, sinh ngày 17/11/2017 cho bà Lê Thị Tuyết N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi thành niên. Ông Phạm Hồng H không phải cấp dưỡng cho con. Ông Phạm Hồng H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Bà Lê Thị Tuyết N cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Phạm Hồng H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

3/ Về tài sản chung: Bà Lê Thị Tuyết N, ông Phạm Hồng H xác định không có, không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

4/ Về nợ chung: Bà Lê Thị Tuyết N, ông Phạm Hồng H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

5/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Tuyết N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0010189, ngày 28/9/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng (Như vậy bà Lê Thị Tuyết N đã thực hiện xong). Ông Phạm Hồng H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

6/ Về quyền kháng cáo: Bà Lê Thị Tuyết N, ông Phạm Hồng H có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ