- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA HNGĐ Luân - Yến"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Vũ Văn L được ly hôn chị Lê Thị Hải Y.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2023/HNGĐ-ST Ngày 08 - 12 - 2023 V/v: ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đoàn Thị Duyên
Bà Bùi Thị Ngoan.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Khánh Ly - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thìn - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 136/2023/TLST -HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023 về “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 13/11/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 54/2023/QĐ-HPT ngày 30/11/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Vũ Văn L, sinh năm 1992;
Địa chỉ: thôn K, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Luân: Bà Nguyễn Thị H - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thái Bình.
- Bị đơn: Chị Lê Thị Hải Y, sinh năm 1990;
Địa chỉ: thôn P, xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình
Anh L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị Y vắng mặt. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh L - bà H có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn anh Vũ Văn L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: anh L và chị Y tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Bình Thanh huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình vào ngày 28/10/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn K, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 02 năm thì chị Y thường xuyên lên cơn co giật nên tháng 02 năm 2019 mẹ chị Y là bà Lê Thị N đã đến nhà anh L đón chị Y về nhà bà N sinh sống để bà N chăm sóc, chữa bệnh cho chị Y, vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Mẹ chị Y - bà N cũng đã làm thủ tục chuyển khẩu cho chị Y về xã L huyện K tỉnh Thái Bình. Nay anh L thấy không thể tiếp tục quan hệ vợ chồng với chị Y được nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Y.
Về quan hệ con chung: không có.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: không có.
Bị đơn là chị Lê Thị Hải Y không đến Tòa án làm việc, Tòa án đến nhà mẹ chị Y là bà N nhưng chị Y và bà N không có mặt ở nhà nên Tòa án không lấy được lời khai.
Qua xác minh tại UBND xã Lê Lợi huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình ngày 31/10/2023 thể hiện: chị Y có xin xác định tình trạng hôn nhân để làm thủ tục đăng ký kết hôn với anh L tại UBND xã Bình Thanh huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng gia đình anh L ở xã B huyện K, tỉnh Thái Bình được khoảng 02 năm thì chị Y về sinh sống cùng mẹ đẻ là bà N và bà N đã chuyển khẩu chị Y về thôn P, xã L huyện K tỉnh Thái Bình. Hiện tại chị Y đang sinh sống cùng mẹ và em trai tại Hà Nội và chị Y là người khuyết tật nặng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng do bị bệnh thần kinh có sổ cấp phát thuốc hàng tháng. Nay anh L xin ly hôn, quan điểm của địa phương là đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Vợ chồng anh L, chị Y không có con chung, không có tài sản chung, không vay nợ chung.
Tại đơn trình bày của là bà Lê Thị N ghi ngày 06/11/2023, nơi cư trú: thôn P, xã L, huyện K tỉnh Thái Bình (là mẹ chị Y) trình bày: Anh L và chị Y đăng ký kết hôn tại UBND xã Bình Thanh huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình. Cả anh L và chị Y đều là người khuyết tật. Trong thời gian sinh sống với nhau vợ chồng cảm thấy không hợp và cũng không tự lo cho cuộc sống sau này được. Chị Y không còn chung sống cùng anh L từ năm 2020 đến nay. Hiện nay chị Y đang phải đi chữa bệnh tại Hà Nội và bà N cũng phải đi chăm sóc chị Y. Nay anh L làm thủ tục ly hôn, bà N đồng ý và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Bà N đề nghị Tòa án cho chị Y được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Hiện tại chị Y và anh L không có con chung, không có tài sản chung.
Tòa án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án; bản sao đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ do anh L cung cấp; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho chị Y nhưng chị Y vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: đề nghị Tòa án giải quyết cho anh L được ly hôn chị Y. Vợ chông anh L, chị Y không có con chung, không có tài sản chung, không vay nợ chung.
Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình có quan điểm cho rằng Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia tố tụng là không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về ý kiến giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, chấp nhận cho anh L được ly hôn chị Y.
Về quan hệ con chung: Không có
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.
Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, anh L được miễn án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Xét thấy, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 338 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ, vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng với quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, anh L và chị Y tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Bình Thanh huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng không được hạnh phúc do cả anh L và chị Y đều là người khuyết tật và cũng không tự lo cho cuộc sống hiện tại và sau này của vợ chồng được. Chị Y đã về nhà mẹ đẻ tại xã L huyện K sinh sống từ năm 2020, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau và ly thân từ đó đến nay. Tòa án đã triệu tập để hòa giải đoàn tụ vợ chồng nhưng chị Y vắng mặt. Điều này chứng tỏ đời sống chung của vợ chồng thực tế không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của anh L, quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa, xử cho anh L được ly hôn chị Y là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con chung: Không có
Về quan hệ tài sản: Anh L khai không có, Tòa án không ghi được lời khai của chị Y nên chưa có cơ sở xem xét, vì vậy Tòa án không đặt ra giải quyết về quan hệ tài sản chung.
Về án phí: Anh L được miễn án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ quốc hội.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014; khoản 1 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 338 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Vũ Văn L được ly hôn chị Lê Thị Hải Y.
2. Về quan hệ con chung: Không có.
3. Về quan hệ tài sản: Không giải quyết.
4.Về án phí: Anh Vũ Văn L được miễn án phí ly hôn sơ thẩm.
5.Về quyển kháng cáo: Anh Vũ Văn L và chị Lê Thị Hải Y vắng mặt tại phiên tòa, có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Kiến Xương; - Các đương sự; - UBND xã Bình Thanh; - Lưu hồ sơ. Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thanh Xuân HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |