vanban.org

Bản án 78/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Ngọc H.

Về nuôi con chung: Giao chị Phạm Thị H nuôi dưỡng 02 con chung là Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 02/11/2005 và Nguyễn Khánh V, sinh ngày 10/10/2013. Anh Nguyễn Ngọc H không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị H. Hai bên có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung. (02 con chung đang ở cùng chị H) Về án phí dân … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ Hiên-Hiếu HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2023/HNGĐ-ST
Ngày 29-3-2023
V/v Ly hôn, nuôi con chung giữa
chị H và anh H”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ pH toà: Ông Vũ Văn Ái.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Việt Hùng;

Ông Lưu Văn Đê.

- Thư ký pH tòa: Ông Nguyễn Văn Sinh - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Hải Hậu.

Ngày 29 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 221/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2022 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn pH tòa số 22/2023/QĐST-DS ngày 10 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1985;

Địa chỉ: Xóm XH, xã HH, huyện HH, tỉnh Nam Định.

Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1985;

Địa chỉ: Xóm XH, xã HH, huyện HH, tỉnh Nam Định.

(Chị H xin vắng mặt, anh H vắng mặt lần thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 01 tháng 8 năm 2022 và quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Ngọc H đăng ký kết hôn ngày 12-12-2004 tại UBND xã HH, huyện HH, tỉnh Nam Định trên cơ sở tự do tìm hiểu tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn chị H và anh H chung sống cùng mẹ anh H tại xóm XH, xã HH đến năm 2018 thì thuê nhà tại xóm Xuân Đài Tây để ở và kinh doanh Spa. Vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyễn nhân do anh H có biểu hiện không chung thủy, không tập trung làm ăn, liên tục rượu chè say về nhà đánh đập chị H, dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng. Từ tháng 02 năm 2021 cho đến nay vợ chồng sống ly thân, chấm dứt mọi quan hệ tình cảm, trách nhiệm với nhau. Đến nay, chị H nhận thấy không còn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống với anh H nên xin được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 02/11/2005 và Nguyễn Khánh V, sinh ngày 10/10/2013. Hiện 02 con đang ở cùng chị H. Khi ly hôn chị H đề nghị được tiếp tục nuôi các con chung và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng: Chị H không đề nghị Toà án giải quyết.

* Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu đã nhiều lần thông báo cho anh H đến nhận Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh H không đến Tòa án làm việc. Tòa án đã phải tống đạt các văn bản tố tụng trực tiếp cho anh H nhưng anh H vẫn không đến Tòa làm việc cũng như không nộp, gửi cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình và các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến yêu cầu khởi kiện của chị H. Tại phiên tòa anh H vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Phạm Thị H có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Ngọc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần thứ 2 không lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt chị H và anh H theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Ngọc H kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại UBND xã Hải Hòa, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định ngày 12-12-2004. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn, hai người sống ly thân từ tháng 02-2021 đến nay. Do xét thấy không còn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống với anh H nên chị H xin ly hôn.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H với anh H, qua xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2019 và đến tháng 02-2021 thì sống ly thân từ đó đến nay nhưng cả chị H và anh H đều không có biện pháp, hành động nhằm hàn gắn tình cảm và mong muốn cuộc sống chung của hai người tiếp tục tồn tại. Mặt khác, anh H đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng đến nay anh H không có văn bản ghi ý kiến của mình gửi cho Tòa án và cũng không có mặt tại các buổi làm việc của Tòa án cũng như phiên toà xét xử, đã chứng tỏ anh H không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị H. Chị H vẫn giữ ý kiến xin ly hôn anh H và đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Nguyễn Ngọc H là phù hợp.

Về con chung: Chị H và anh H có 02 con chung là Nguyễn Văn Đại, sinh ngày 02/11/2005 và Nguyễn Khánh V, sinh ngày 10/10/2013, hiện các con đang ở cùng chị H. Khi ly hôn, chị H đề nghị được nuôi cả 02 con chung và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Đến nay anh H cũng không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng con chung, các con cũng có nguyện vọng được ở cùng chị H nên cần chấp nhận đề nghị của chị H; giao 02 con chung cho chị H nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị H là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản: Chị Phạm Thị H không đề nghị Toà án giải quyết, anh Nguyễn Ngọc H cũng không có ý kiến về tài sản cũng như nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị H phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56 và các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Ngọc H.

2. Về nuôi con chung: Giao chị Phạm Thị H nuôi dưỡng 02 con chung là Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 02/11/2005 và Nguyễn Khánh V, sinh ngày 10/10/2013. Anh Nguyễn Ngọc H không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị H. Hai bên có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung. (02 con chung đang ở cùng chị H)

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Phạm Thị H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ tại biên lai số 0006383 ngày 26-10-2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu; chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ