- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp Hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: cho anh Nguyễn Phú Th được ly hôn với chị Nguyễn Thị Th.
- Căn cứ chính? Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12/4/2023 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Từ
Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Mai Khanh và ông Trần Xuân Thành
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Lệ Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không tham gia phiên toà
Ngày 12/4/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 59/2023/TLST-HNGĐ ngày 23/02/2023 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 30/3/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: anh Nguyễn Phú Th, sinh năm 1985. Nơi ĐKHKTT: Xóm Tân L (nay là xóm R), xã Nghi Th, huyện Nghị Lộc, tỉnh Nghệ An. Chỗ ở hiện nay: C-dong, 204ho, 17-11, Sangbuk-ro, Sangbuk-myeon, Ulju-gun, Ulsan, Hàn Quốc. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1986. Địa chỉ: Xóm Tân L (nay là xóm R), xã Nghi Th, huyện Nghi L, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/01/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Phú Th trình bày: Anh Nguyễn Phú Th và chị Nguyễn Thị Th kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 21/4/2011 tại UBND xã Nghi Th, huyện Nghi L, tỉnh Nghệ An. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc. Thời gian gần đây, anh Nguyễn Phú Th đi xuất khẩu lao động và làm việc ở Hàn Quốc, hai vợ chồng không có thời gian gần nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, không còn hỏi han, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, vợ chồng không còn thấu hiểu, chia sẻ được với nhau. Cuộc sống hôn nhân không hòa hợp, hai bên không còn tiếng nói chung, tình trạng hôn nhân không thể kéo dài nên anh Nguyễn Phú Th đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị Th.
Về con chung: Anh Nguyễn Phú Th và chị Nguyễn Thị Th có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Kiều Tr, sinh ngày 01/11/2011 và cháu Nguyễn Thị Ngọc H, sinh ngày 17/4/2015. Hiện nay hai cháu đang ở cùng với chị Nguyễn Thị Th. Do anh Nguyễn Phú Th đang làm việc tại nước ngoài, không có điều kiện chăm sóc trực tiếp được các con nên khi vợ chồng ly hôn, anh Nguyễn Phú Th đề nghị Tòa án giao hai con chung cho chị Nguyễn Thị Th chăm sóc nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Phú Th tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 2.500.000 đồng/cháu/tháng.
Về tài sản chung và nợ chung: anh Nguyễn Phú Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Nguyễn Thị Th trình bày: Chị Nguyễn Thị Th thừa nhận về thời gian, điều kiện, địa điểm đăng ký kết hôn, quá trình chung sống vợ chồng như anh Nguyễn Phú Th trình bày. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc. Sau khi kết hôn, anh Th đi xuất khẩu lao động và làm việc ở Hàn Quốc, do xa nhau quá lâu, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, không cùng quan điểm sống, chị Nguyễn Thị Th vô cùng mệt mỏi, không được tôn trọng. Chị Nguyễn Thị Th cũng cố gắng nhiều nhưng vợ chồng không còn tiếng nói chung. Nay anh Nguyễn Phú Th yêu cầu ly hôn thì chị Nguyễn Thị Th đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung như anh Nguyễn Phú Th trình bày. Con chung hiện đang sống cùng chị Nguyễn Thị Th. Nếu vợ chồng ly hôn, nguyện vọng của chị Nguyễn Thị Th là được tiếp tục nuôi con chung và đồng ý anh Nguyễn Phú Th cấp dưỡng nuôi con 2.500.000 đồng/cháu/tháng.
Về tài sản chung và nợ chung: chị Nguyễn Thị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại đơn trình bày nguyện vọng, các cháu Nguyễn Thị Kiều Tr và cháu nguyễn Thị Ngọc H đều có ý kiến, nếu bố và mẹ ly hôn, nguyện vọng của các cháu là được ở với mẹ Nguyễn Thị Th.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự đã được thẩm tra tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: nguyên đơn anh Nguyễn Phú Th hiện đang ở nước ngoài, không có điều kiện về Việt Nam để trực tiếp giải quyết vụ án nên đã có văn bản trình bày gửi về cho Tòa án và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Văn bản anh Nguyễn Phú Th gửi về được Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc xác nhận. Chị Nguyễn Thị Th hiện đang cư trú tại Việt Nam, có văn bản trình bày ý kiến và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Phú Th và chị Nguyễn Thị Th kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn từ khi anh Nguyễn Phú Th đi xuất khẩu lao động và làm việc ở Hàn Quốc. Do khoảng cách địa lý, hai vợ chồng không có thời gian gần nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, không còn hỏi han, quan tâm, chăm sóc thấu hiểu và chia sẻ với nhau. Cuộc sống hôn nhân không hòa hợp, hai bên không còn tiếng nói chung nên anh Nguyễn Phú Th đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị Th. Chị Nguyễn Thị Th cũng đồng ý ly hôn với anh Nguyễn Phú Th. Xét thấy, tình trạng hôn nhân của anh Nguyễn Phú Th và chị Nguyễn Thị Th đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho anh Nguyễn Phú Th được ly hôn với chị Nguyễn Thị Th.
Về con chung: anh Nguyễn Phú Th và chị Nguyễn Thị Th có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Kiều Tr, sinh ngày 01/11/2011 và cháu Nguyễn Thị Ngọc H, sinh ngày 17/4/2015. Hiện nay hai cháu đang ở cùng với chị Nguyễn Thị Th. Anh Nguyễn Phú Th và chị Nguyễn Thị Th đều có nguyện vọng giao con chung cho chị Nguyễn Thị Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Nguyễn Phú Th có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Nguyễn Thị Th 2.500.000 đồng/cháu/tháng. Xét thấy, hiện nay anh Nguyễn Phú Th đang ở nước ngoài, không có điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, nên thỏa thuận của anh Nguyễn Phú Th và chị Nguyễn Thị Th về việc giao con cho chị Nguyễn Thị Th nuôi dưỡng là chính đáng và phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận. Anh Nguyễn Phú Th có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Nguyễn Thị Th 2.500.000 đồng/cháu/tháng và có quyền, nghĩa vụ đi lại, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: anh Nguyễn Phú Th và chị Nguyễn Thị Th không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Về án phí: anh Nguyễn Phú Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm a khoản 5 Điều 477, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: cho anh Nguyễn Phú Th được ly hôn với chị Nguyễn Thị Th.
2. Về con chung: giao hai con chung là cháu Nguyễn Thị Kiều Tr, sinh ngày 01/11/2011 và cháu Nguyễn Thị Ngọc H, sinh ngày 17/4/2015 cho chị Nguyễn Thị Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Anh Nguyễn Phú Th có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Nguyễn Thị Th 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn đồng)/cháu/tháng, kể từ tháng 5/2023 cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Anh Nguyễn Phú Th có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: anh Nguyễn Phú Th và chị Nguyễn Thị Th không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Án phí: anh Nguyễn Phú Th phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 150.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012692 ngày 16/02/2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Anh Nguyễn Phú Th còn phải nộp tiếp 150.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
5. Chị Nguyễn Thị Th có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Anh Nguyễn Phú Th đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Cục THADS tỉnh Nghệ An; - UBND xã Nghi Th, huyện Nghi L; - Lưu HSVA-VP-Tòa GĐ&NCTN. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Từ |