- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án HNGĐ giữa chị Lương Thị N và anh Lô Văn K (Không công nhận vợ chồng)"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố chị Lương Thị N và anh Lô Văn K; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố chị Lương Thị N và anh Lô Văn K; Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố chị Lương Thị N và anh Lô Văn K
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2023/HNGĐ-ST Ngày 30 tháng 8 năm 2023 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Bà Vi Thị Khuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông La Khăm Ỏn;
2. Ông Lầu Bá Dìa.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kỳ Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 51/2023/TLST-HNGD ngày 11 tháng 5 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2023/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 7 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2023/QĐST-DS ngày 28/7/2023, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Lương Thị N, sinh năm 1982.
Nơi cư trú: Bản N2, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Lô Văn K, sinh năm 1973.
Nơi cư trú: Bản N2, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại phiên tòa nguyên đơn chị Lương Thị N vắng mặt, tuy nhiên theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lô Văn K lấy nhau năm 2008 theo phong tục tập quán của địa phương, trên cơ sở tự nguyện mà không có tiến hành đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã. Hôn nhân hạnh phúc về sau phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính cách không hòa hợp, anh Lô Văn K thường xuyên đánh đập, nhiều lần chị đã bỏ qua tha thứ nhưng anh K vẫn không thay đổi. Hiện nay, tình cảm không còn, chị yêu cầu Tòa án giải quyết chấm dứt quan hệ như vợ chồng với anh Lô Văn K, không công nhận chị N và anh K là vợ chồng.
Về con chung: Chị và anh K có 01 con chung là cháu Lô Đức M, sinh ngày 28/7/2009. Ngoài ra, chị N còn có con riêng là cháu Lô Văn T, sinh ngày 10/11/2004, còn anh K có con riêng là cháu Lô Văn X, sinh ngày 10/4/1992. Nay ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung là cháu Lô Đức M, không yêu cầu anh K cấp dưỡng. Đối với các con riêng đều đã đủ tuổi trưởng thành nên chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Chị Lương Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa: Sau khi thụ lý đơn khởi kiện, thông báo thụ lý vụ án, qua xác minh anh Lô Văn K thường xuyên vắng mặt tại địa phương, đi đâu và làm gì không ai biết, anh Lô Văn K cũng không khai báo với chính quyền địa phương về việc thay đổi nơi cư trú, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân xã H và tại bản N2, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An là nơi cư trú cuối cùng của bị đơn. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn anh Lô Văn K vẫn vắng mặt, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo đúng quy định tại Điều 204, 207, 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền, xác định quan hệ tranh chấp; Trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ, tống đạt đảm bảo quyền của đương sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự từ Điều 239 đến Điều 260 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của Thư ký phiên tòa được thực hiện đúng quy định tại Điều 51 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự: Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 9, 14, 15, 53, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
Về hôn nhân: Không công nhận chị Lương Thị N và anh Lô Văn K là vợ chồng;
Về con chung: Giao 01 con chung là cháu Lô Đức M, sinh ngày 28/7/2009 cho chị Lương Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung cho đến khi đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Lô Văn K do chị Lương Thị N không yêu cầu. Đối với các con riêng đều đã đủ tuổi trưởng thành nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn chị Lương Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn chị Lương Thị N phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Lương Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết chấm dứt quan hệ như vợ chồng, không công nhận là vợ chồng với anh Lô Văn K có địa chỉ cư trú tại xã H, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn theo quy định tại khoản 7 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ kiện Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành tốt các quyết định của Tòa án. Tại phiên tòa nguyên đơn chị Lương Thị N vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn thường xuyên vắng mặt tại địa phương, không chấp hành các quyết định của Tòa án, gây khó khăn cho công tác điều tra, thu thập chứng cứ. Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt cho đương sự hợp lệ nhiều lần nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, nguyên đơn là đúng quy định tại Điều 207 và Điều 227 khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị N và anh Lô Văn K tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà chỉ làm lễ cưới theo phong tục, tập quán của địa phương nên theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình thì quan hệ giữa chị Lương Thị N và anh Lô Văn K không làm phát sinh quyền nghĩa vụ của vợ và chồng. Sau thời gian chung sống với nhau thì giữa hai người phát sinh nhiều nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng tính cách không hòa hợp. Hai bên đã cố gắng hàn gắn nhưng không thể hòa giải được. Hiện nay chị Lương Thị N không còn tình cảm với anh Lô Văn K, không muốn tiếp tục duy trì cuộc sống chung. Xét thấy, việc chung sống, thời gian chung sống giữa chị N và anh K là đúng thực tế, nay có bên yêu cầu ly hôn nên căn cứ các Điều 9, 14 và Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố chị Lương Thị N và anh Lô Văn K không phải là vợ chồng.
Về con chung: Chị Lương Thị N và anh Lô Văn 01 con chung là cháu Lô Đức M, sinh ngày 28/7/2009. Ngoài ra, chị N còn có con riêng là cháu Lô Văn T, sinh ngày 10/11/2004, còn anh K có con riêng là cháu Lô Văn X, sinh ngày 10/4/1992. Nay ly hôn, chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung. Xét thấy, con chung có nguyện vọng ở với chị Lương Thị N, bên cạnh đó hiện nay anh K thường xuyên vắng mặt tại địa phương, đi đâu và làm gì không ai biết, nên việc giao con chung cho chị N nuôi dưỡng, chăm sóc là đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con. Vì vậy, cần giao con chung là cháu 01 con chung là cháu Lô Đức M, sinh ngày 28/7/2009 cho chị Lương Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) là phù hợp, đúng quy định, đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con. Đối với các con riêng Lô Văn T và Lô Văn X đều đã đủ tuổi trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Do chị Lương Thị N không yêu cầu nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng đối với anh Lô Văn K. Trường hợp Chị N nuôi con không đảm bảo quyền, lợi ích của con mà anh K có căn cứ chứng minh thì có quyền làm đơn thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Trường hợp anh K lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh K.
Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Nguyên đơn chị Lương Thị N không yêu cầu Hội đồng xét xử không xem xét.
Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn chị Lương Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị N.
1. Về hôn nhân: Không công nhận chị Lương Thị N và anh Lô Văn K là vợ chồng.
2. Về con chung: Giao 01 con chung là cháu Lô Đức M, sinh ngày 28/7/2009 cho chị Lương Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Lô Văn K do chị Lương Thị N không yêu cầu. Anh Lô Văn K có quyền, nghĩa vụ chăm sóc, thăm nom con chung không ai được cản trở. Trường hợp chị N là người trực tiếp nuôi con chung không đảm bảo quyền, lợi ích của con mà anh K có căn cứ chứng minh thì anh K có quyền yêu cầu Tòa án xem xét, thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Trường hợp anh K lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh K.
3. Về án phí: Chị Lương Thị N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đã nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án theo biên lai thu số 0004336 ngày 10/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An (Chị N đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm).
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Lương Thị N có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30/8/2023). Bị đơn anh Lô Văn K vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Kỳ Sơn; - Chi cục THADS huyện Kỳ Sơn; - Lưu hồ sơ; VP.TA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vi Thị Khuyên |