vanban.org

Bản án 78/2023/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

TAND TX. Tân Châu, tỉnh An Giang Tuyên án 26/10/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

của Hội đồng Th m phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp d ng một số quy định của Bộ luật Dân s về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;

6 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án. Đình chỉ yêu cầu kh i kiện của nguyên đ n ông Lê Đức D về việc yêu cầu nh ng người thừa kế của ng Lý H u T có trách nhiệm bồi thường về thu nhập th c tế bị mất và yêu cầu bồi thường v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng"
  • Tòa quyết gì? của Hội đồng Th m phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp d ng một số quy định của Bộ luật Dân s về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;
  • Căn cứ chính? Bộ luật Dân s; Điều 7 Nghị quyết số Số: 02/2022/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số q…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 78/2023/DS-ST
Ngày: 26/10/2023
“V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại
sức khỏe do người chết để lại”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Sang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Ngọc Quế

2. Ông Nguyễn Hồng Thái

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huỳnh Anh là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 6 tháng năm 3, tại tr s Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét x s th m c ng khai v án dân s s th m th lý số: 192/2022/TLST-DS ngày 19 tháng

năm

theo Quyết định đưa v án ra xét x số: 87/2023 QĐ ST-DS ngày 16 tháng 9 năm 23 và quyết định hoãn phiên tòa số 56 3 QĐST-DS ngày 28 tháng 9 năm 3, gi a các đư ng s :

1. Đồng nguyên đơn:

1.1. Ông Lê Đức D, sinh năm 98 ; N i cư trú: Số 33, đường Phạm Văn Đồng, Tổ , khóm L T A, phường L T, thị xã T C, tỉnh A G (có mặt).

1.2. Bà Phan Thị M, sinh năm 989. N i cư trú: Số 6 8, đường Hà Hoàng Hổ, Tổ , khóm L T D, phường L T, thị xã T C, tỉnh A G (có mặt).

2. Bị đơn: Bà Oan Hồng C, sinh năm 976; N i cư trú: Số , đường Trường Chinh, Tổ 4, khóm L T A, phường L T, thị xã T C, tỉnh A G (có mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Oan Hồng C, sinh năm 1976;

3.2. Anh Lý Chấn G, sinh năm

(có mặt);

3.3. Anh Lý Chấn H, sinh năm 3 (có mặt);

3.4. Chị Lý Trác S, sinh năm 5 (vắng mặt, có đ n xin vắng mặt).

Cùng cư trú: Số , đường Trường Chinh, Tổ 4, khóm L T A, phường L T, thị xã T C, tỉnh A G.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 19/8/2022, khởi kiện bổ sung ngày 10/8/2023, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lê Đức D và bà Phan Thị M cùng trình bày:

Khoảng 7 giờ ngày 17/4/2022, gi a bà Phan Thị Trang (vợ ng D) với gia đình bà Oan Hồng C xảy ra cải vã về việc lên xuống hàng hóa gây tiếng ồn. Bà Trang gọi điện thoại cho ông D hay biết s việc, ông D chạy lại thì thấy bà Phan Thị M (em bà Trang) và bà C giáp lá cà đánh nhau, lúc đó ông D v can ngăn thì bị Lý Chấn G dùng tay đánh vào người nhưng né tránh được, tại thời điểm xảy ra x xát, ông Lý H u T (chồng bà C) từ trong nhà chạy ra dùng chay thủy tinh loại đ ng mật ong đánh vào đầu của ông D và đầu của bà M, ông T hai tay cầm hai chay thủy tinh, tay phải đánh tr c tiếp vào đầu của ông D, tay trái ông T đánh tr c tiếp vào đầu của bà M, được mọi người can ngăn. Ông D, bà M có trình báo C ng an phường Long Thạnh, thị xã Tân Châu.

Sau khi s việc xảy ra, ng D và bà M làm đ n yêu cầu x lý hình s đối với ông Lý H u T, C quan Cảnh sát điều tra C ng an thị xã Tân Châu đã kh i tố v án, trong quá trình làm việc với C quan Cảnh sát điều tra C ng an thị xã Tân Châu có trưng cầu giám định với tỷ lệ tổn thư ng c thể của ng D là 01%, tỷ lệ tổn thư ng c thể của bà M là 00%, ông D và bà M nhận được kết luận giám định thư ng tích và kh ng có ý kiến, khiếu nại. Trong quá trình điều tra, ông T chết, ông D và bà M rút yêu cầu kh ng kh i tố v án hình s , ngày 9 8

C quan Cảnh sát điều tra C ng an thị xã Tân Châu ra quyết định kh ng kh i tố v án hình s đối với ng Lý H u T.

Ông Lê Đức D và bà Phan Thị M cùng xác định ng Lý H u T là người tr c tiếp dùng chai thủy tinh loại đ ng mật ong đánh vào c thể của ng bà làm tổn thư ng sức khỏe. Do đó, ông D và bà M yêu cầu nh ng người thừa kế của ng Lý H u T gồm: bà Oan Hồng C, anh Lý Chấn G, anh Lý Chấn H, chị Lý Trác S cùng có trách nhiệm bồi thường thiệt hại sức khỏe cho ng bà với các khoản như sau:

. Yêu cầu của ng Lê Đức D bao gồm:

- Chi phí khám và điều trị thư ng tích tại Bệnh viện Đa khoa khu v c Tân Châu ngày 7 4

với số tiền 556.5 đồng.

- Chi phí khám, điều trị thư ng tích và mua thuốc uống tại Phòng khám VIETLIFE MRI (địa chỉ: số 583, đường Sư Vạn Hạnh, Phường 3, Quận , Thành phố Hồ Chí Minh) ngày 8 4

với số tiền tổng cộng là 4.737.35 đồng.

- Chi phí khám, điều trị thư ng tích và mua thuốc uống tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế S.I.S Cần Th ngày 6 5

với số tiền tổng cộng là 9.635.8 6 đồng.

- Chi phí thuê xe đi khám và điều thư ng tích tại Thành phố Hồ Chí Minh và tại Thành phố Cần Th là 5. . đồng.

- Thu nhập th c tế trong thời gian điều trị thư ng tích từ ngày 7 4

đến ngày 06/5/2022 là 19 ngày, ông kh ng có nghề nghiệp ổn định, là lao động t do, yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định.

- Yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần theo quy định của pháp luật, không còn yêu cầu gì khác.

. Yêu cầu của bà Phan Thị M bao gồm:

- Chi phí khám và điều trị thư ng tích tại Bệnh viện Đa khoa khu v c Tân Châu ngày 7 4

với số tiền 556.5 đồng.

- Chi phí khám, điều trị thư ng tích và mua thuốc uống tại Phòng khám VIETLIFE MRI (địa chỉ: số 583, đường Sư Vạn Hạnh, Phường 3, Quận , Thành phố Hồ Chí Minh) ngày 8 4

với số tiền 3.76 . đồng.

- Chi phí thuê xe đi khám và điều thư ng tích tại Thành phố Hồ Chí Minh là .5 . đồng.

- Thu nhập th c tế trong thời gian điều trị thư ng tích là 7 ngày, bà không có nghề nghiệp ổn định, là lao động t do, yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định.

- Yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần theo quy định của pháp luật, không còn yêu cầu gì khác.

Bị đơn bà Oan Hồng C trình bày:

Bà với ng Lý H u T là vợ chồng có đăng ký kết h n, ng T bị bệnh đã chết vào ngày 6

. Bà với ng T có ba con Cng gồm: Lý Chấn G, sinh năm

; Lý Chấn H, sinh năm

3 và Lý Trác S sinh năm

5. Tất cả các con hiện nay đều đang sống Cng với bà và ph thuộc vào gia đình.

S việc xảy ra vào khoảng 7 giờ ngày 17/4/2022, bà có qua nhà bà Trang (vợ ng Lê Đức D) để nói chuyện việc đậu xe trước c a nhà của bà và buổi tối đừng quăng đồ vào vách tường nhà gây ồn ào vì chồng bà bị bệnh nặng đang điều trị. Bà Trang trả lời “Ai đậu xe trước c a nhà bà thì bà ra đuổi người ta, còn ai quăng đồ vào vách tường thì qua ch i người ta”. Trước đó, bà cũng nhiều lần qua nói Chuyện với vợ chồng bà Trang về việc đậu xe và lên xuống hàng hóa gây tiếng ồn, s việc bà có báo với Ban nhân dân khóm để nắm s việc. Trong lúc đang nói chuyện với bà Trang, bà Phan Thị M chạy xe lại hỏi s việc như thế nào thì bà cũng trình bày như trên cho bà M nghe, rồi bà M nói “vách tường này là vách tường của bà Trang kh ng phải vách tường chung nên muốn làm gì là Chuyện của bà Trang”, nói xong bà M lấy nón bảo hiểm đang đội ném vào bà C, khoảng phút sau ng Lê Đức D chạy tới và cũng hỏi s việc như thế nào thì bà C cũng trình bày s việc như trên, ông D trả lời “đây vách tường nhà ng, ng muốn làm gì là quyền của ng, ng D nói tiếp sau 3 giờ khuya thì ng có quyền đậu xe trước nhà t i để xuống hàng hóa” và gia đình ng D kéo qua nhà bà tổng cộng 5 người gồm: ng D, bà Trang, bà M và người giúp việc (kh ng rõ họ tên). Tiếp theo bà M nắm tóc bà lôi ra ngoài đường, s việc sau đó xảy ra bà kh ng biết gì.

Tại thời điểm hai bên xảy ra u đả, bà C xác định gia đình bà kh ng tham gia đánh nhau, kh ng biết ai gây thư ng tích cho ng D, bà M và cũng kh ng thấy ng T dùng vật gì khi hai bên xảy ra x xát, đánh nhau. Lúc đánh nhau, bà cũng bị gây thư ng tích, nhưng kh ng yêu cầu c quan có th m quyền giải quyết.

Hậu quả của việc hai bên x xát, đánh nhau là C quan Cảnh sát điều tra C ng an thị xã Tân Châu đã kh i tố v án, sau đó C quan Cảnh sát điều tra C ng an thị xã Tân Châu ra quyết định kh ng kh i tố v án hình s với lý do ông Lý H u T chết, ông D bị tổn thư ng c thể là 1%, bà M bị tổn thư ng c thể là 0%, ông D và bà M rút đ n yêu cầu kh ng x lý hình s . Bà đã nhận đủ các th ng báo, quyết định của C quan Cảnh sát điều tra C ng an thị xã Tân Châu và kh ng có ý kiến.

Bà kh ng đồng ý yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe cho ng Lê Đức D và bà Phan Thị M về các khoản chi phí nêu trên với lý do thư ng tích của ng D, bà M kh ng phải do bà gây ra, không có yêu cầu gì khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lý Chấn G, anh Lý Chấn H trình bày: Tại phiên tòa, anh Lý Chấn G, anh Lý Chấn H thống nhất với lời trình bày của bà Oan Hồng C, kh ng yêu cầu gì khác.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lý Trác S: Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố t ng theo quy định của pháp luật nhưng người có quyền lợi, nghĩa v liên quan kh ng đến giải quyết v án và cũng kh ng có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu kh i kiện của nguyên đ n.

Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu:

- Về tố t ng: Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu th lý giải quyết v án đúng th m quyền, đảm bảo thời hạn C n bị xét x . Quá trình thu thập chứng cứ, m phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, c ng khai chứng cứ, hòa giải, tống đạt các văn bản tố t ng cho đư ng s …đều th c hiện đúng quy định. Tại phiên tòa, Hội đồng xét x , Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố t ng dân s năm 5 và các văn bản pháp luật có liên quan. Các đư ng s đã th c hiện quyền và nghĩa v tố t ng theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến về việc giải quyết v án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s v án, lời trình bày và yêu cầu của người tham gia tố t ng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét x chấp nhận yêu cầu kh i kiện của ng Lê Đức D, chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của bà Phan Thị M đối với bị đ n bà Oan Hồng C và người có quyền lợi, nghĩa v liên quan về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe do người chết để lại, đình chỉ yêu cầu của ng Lê Đức D về việc yêu cầu nh ng người thừa kế của ng Lý H u T có trách nhiệm bồi thường về thu nhập th c tế bị mất và yêu cầu bồi thường về tổn thất tinh thần. Về án phí: Bà Oan Hồng C phải chịu án phí dân s s th m.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s v án đã được th m tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét x nhận định:

[ ] Về tố t ng:

Về th m quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp: Ông Lê Đức D, bà Phan Thị M yêu cầu nh ng người thừa kế của ng Lý H u T gồm: bà Oan Hồng C, anh Lý Chấn G, anh Lý Chấn H và chị Lý Trác S cùng có trách nhiệm bồi thường thiệt hại sức khỏe, bị đ n và người có quyền lợi, nghĩa v liên quan cùng trú tại: khóm L T A, phường L T, thị xã T C, tỉnh A G. ét yêu cầu của đư ng s là “Tranh chấp bồi thường thiệt hại sức khỏe do người chết để lại” nên thuộc th m quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản Điều 39 Bộ luật Tố t ng dân s 2015.

Về xác định tư cách của đư ng s và phạm vi kh i kiện: nguyên đ n yêu cầu bị đ n và người có quyền lợi, nghĩa v liên quan cùng có trách nhiệm th c hiện nghĩa v bồi thường do người chết để lại, ng T là chồng của bà C chết trước khi nguyên đ n kh i kiện, do đó xác định bà C vừa là bị đ n, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa v liên quan trong v án, các con của ng T, bà C đưa vào tham gia tố t ng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là phù hợp với Điều 68, Điều 7 và Điều 73 của Bộ luật Tố t ng dân s . Quá trình giải quyết v án, nguyên đ n có yêu cầu thay đổi, bổ sung yêu cầu kh i kiện. Xét việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của nguyên đ n là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 5 của của Bộ luật Tố t ng dân s nên Hội đồng xét x chấp nhận và tiến hành xét x v án.

[ .3] Về s vắng mặt của nh ng người làm chứng: Nh ng người làm chứng đã cung cấp lời khai có trong hồ s v án. Các đư ng s và Kiểm sát viên tham gia phiên tòa kh ng có ý kiến về s vắng mặt này, việc vắng mặt của nh ng người làm chứng kh ng gây khó khăn, kh ng ảnh hư ng đến việc khách quan, giải quyết toàn diện v án nên Tòa án vẫn tiến hành xét x vắng mặt người làm chứng theo quy định tại khoản Điều 9 Bộ luật Tố t ng dân s năm 5.

Về nội dung:

Xét về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập từ C quan Cảnh sát điều tra C ng an thị xã Tân Châu, lời khai của các đư ng s cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ s v án, đã xác định.

Vào khoảng 7 giờ ngày 7 4

, tại khu v c tổ 4, khóm L T A, phường L T, thị xã T C, tỉnh A G, gi a gia đình bà Oan Hồng C với gia đình ng Lê Đức D xảy ra cải vã, nguyên nhân mâu thuẫn bà C cho rằng phía gia đình ng D lên xuống hàng hóa gây ồn ào và để hàng hóa lấn chiếm vỉa hè, cản tr tầm nhìn do hai nhà liền kề cùng kinh doanh tại Trung tâm thư ng mại Tân Châu. Tại thời điểm xảy ra xô xát, ông Lý H u T (chồng bà C) từ trong nhà chạy ra dùng chay thủy tinh loại đ ng mật ong đánh vào đầu của ng D và bà M, hậu quả tỷ lệ tổn thư ng c thể của ông D là %, tỷ lệ tổn thư ng c thể của bà M là 00%.

Trong quá trình điều tra ông Lý H u T chết, ng D và bà M rút yêu cầu kh ng kh i tố v án hình s , ngày 9 8

C quan Cảnh sát điều tra C ng an thị xã Tân Châu ra quyết định kh ng kh i tố v án hình s đối với ng Lý H u T.

ét về nguyên nhân dẫn đến hành vi gây thư ng tích cho ng D, bà M là do hai bên gia đình đã có mâu thuẫn từ trước, việc gia đình ng D kinh doanh mua bán hàng hóa gây ồn ào đã ảnh hư ng đến gia đình bà C nên bà C bức xúc, xảy ra c cãi với bà Trang dẫn đến hai bên x xát, đánh nhau. Trong lúc ông D vào can ngăn thì bị ông Lý H u T đã dùng chai thủy tinh loại đ ng mật ong đánh vào đầu của ng D, bà M gây thư ng tích. S việc này phù hợp với lời khai của đư ng s , phù hợp với lời khai của nh ng người làm chứng và được C quan Cảnh sát điều tra C ng an thị xã Tân Châu làm rõ. Hội đồng xét x xác định mức độ lỗi gây ra cho ông D hoàn toàn thuộc về ng T để xác định mức bồi thường thiệt hại.

Trong quá trình giải quyết v án và tại phiên tòa, bà M thừa nhận trong lúc xảy ra cải vã với bà C, có tham gia đánh nhau với bà C, phù hợp với lời khai của bà C cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ s v án. Trong trường hợp này, lẽ ra phải trình báo với c quan chức năng có th m quyền để giải quyết theo quy định, ngược lại ông T có hành vi xâm phạm tr c tiếp đến sức khỏe của ng D, bà M. Mặc khác, bà M lẽ ra phải tìm cách ngăn chặn hậu quả đánh nhau có thể xảy ra hoặc trình báo với c quan chức năng có th m quyền để x lý, do hai bên kh ng làm được điều đó nên hậu quả u đả xảy ra là ng D, bà M bị ng T gây thư ng tích. Trên c s đó Hội đồng xét x xác định mức độ lỗi gây ra để xác định mức bồi thường thiệt hại. Hội đồng xét x xác định lỗi thuộc về hai bên nhưng phía ông T có lỗi hoàn toàn đối với thư ng tích của ng D, bà M cũng có lỗi trong việc xảy ra cải vã, đánh nhau nhưng ng T có lỗi nhiều h n, theo đó xác định lỗi của ng T gây ra thư ng tích cho bà M là 7 %, lỗi của bà M là 30%. Do đó, có căn cứ phát sinh theo quy định tại Điều 584 của Bộ luật dân s năm 5 và có đầy đủ các yếu tố để xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Th m phán Tòa án nhân dân tối cao.

Xét yêu cầu bồi thường của ng Lê Đức D, bà Phan Thị M.

Tại phiên tòa, ng Lê Đức D rút lại một phần yêu cầu kh i kiện, kh ng yêu cầu nh ng người thừa kế của ng Lý H u T có nghĩa v bồi thường thiệt hại về thu nhập th c tế bị mất và yêu cầu bồi thường về tổn thất tinh thần. Xét việc rút một phần yêu cầu kh i kiện của ông D là hoàn toàn t nguyện, do đó căn cứ khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố t ng dân s năm

5, đình chỉ một phần yêu cầu kh i kiện của ông Lê Đức D.

ét yêu cầu của ông Lê Đức D và bà Phan Thị M về chi phí khám và điều trị thư ng tích, chi phí thuê xe đi khám, ch a bệnh. Hội đồng xét x xét thấy:

- Về chi phí khám và điều trị thư ng tích của ng D tại Bệnh viện Đa khoa khu v c Tân Châu ngày 7 4

với số tiền 556.5 đồng. Chi phí khám, điều trị thư ng tích và mua thuốc uống tại Phòng khám VIETLIFE MRI ngày 8 4

với số tiền là 4.737.35 đồng. Chi phí khám, điều trị thư ng tích và mua thuốc uống tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế S.I.S Cần Th ngày 6 5

với số tiền là 9.635.8 6 đồng. Chi phí thuê xe đi khám và điều thư ng tích tại Thành phố Hồ Chí Minh và tại Thành phố Cần Th là 5. . đồng. Tổng cộng chi phí khám, điều trị thư ng tích của ng D là 9.9 9.666 đồng (làm tròn 9.93 . đồng).

- Về chi phí khám và điều trị thư ng tích của bà M tại Bệnh viện Đa khoa khu v c Tân Châu ngày 7 4

với số tiền 556.5 đồng. Chi phí khám, điều trị thư ng tích và mua thuốc uống tại Phòng khám VIETLIFE MRI ngày 8 4

với số tiền 3.76 . đồng. Chi phí thuê xe đi khám và điều thư ng tích tại Thành phố Hồ Chí Minh là .5 . đồng. Tổng cộng chi phí khám, điều trị thư ng tích của bà M là 6.81 .5 đồng.

Hội đồng xét x thấy rằng sau khi bị gây thư ng tích vùng đầu, ông D và bà M đã đến các c s khám, ch a bệnh để điều trị thư ng tích nhằm khắc ph c thiệt hại về sức khỏe do ng Lý H u T gây ra, phù hợp với các hóa đ n, biên lai thu tiền đã cung cấp cho Tòa án, mặc dù ng D, bà M t đi khám và điều trị nhưng xét thấy việc chủ động đến các c s khám, ch a bệnh nhằm m c đích bảo vệ sức khỏe, tính mạng của người bị thiệt hại, đối với khoản chi phí thuê xe đi lại từ n i (Thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang) đến n i khám (Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Cần Th ) là hoàn toàn phù hợp với th c tế, vì sức khỏe của con người lu n được pháp luật bảo vệ, do đó đây là các khoản chi phí hợp lý và th c tế nên Hội đồng xét x có căn cứ chấp nhận. Ông T có lỗi hoàn toàn đối với người bị thiệt hại là ông D như Hội đồng xét x nhận định nêu trên, do đó cần chấp nhận yêu cầu chi phí khám và điều trị của ng D với số tiền là 29.930.000 đồng. Bà M là người bị thiệt hại nhưng có lỗi là 3 % như đã nhận định, do đó cần chấp nhận chi phí khám và điều trị của bà M tư ng ứng với lỗi của hai bên.

- ét yêu cầu bồi thường về thu nhập th c tế bị mất của bà M là 07 ngày. Xét thấy, trong thời gian điều trị thư ng tích, các lần đi khám và điều trị, trong thời gian này kh ng lao động được nên bà M yêu cầu bồi thường về thu nhập th c tế bị mất để bù đắp lại ngày c ng lao động, đây là thời gian hợp lý để bà M nghỉ ng i ph c hồi sức khỏe, tái tạo lại sức lao động là phù hợp với tỷ lệ thư ng tích do ng T gây ra. Theo lời trình bày của bà M là lao động t do địa phư ng, kh ng có thu nhập ổn định, do đó kh ng xác định được khoảng thu nhập th c tế bị mất, giảm sút. Căn cứ vào điểm b khoản Điều 7 của Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 6 9 của Hội đồng Th m phán Tòa án nhân dân tối cao và quy định số 656 SLĐTB H-LĐVL ngày 7

của S Lao động Thư ng binh và ã hội tỉnh An Giang để giải quyết yêu cầu bồi thường về thu nhập th c tế bị mất cho bà M. Theo văn bản hướng dẫn của S Lao động Thư ng binh và ã hội tỉnh An Giang, Thị xã Tân Châu thuộc vùng III, có mức lư ng tối thiểu vùng là 3.64 . đồng/tháng : 26 ngày = 4 . đồng ngày người. Hội đồng xét x chấp nhận yêu cầu bồi thường thu nhập th c tế bị mất của bà M là 07 ngày là hợp lý và có căn cứ theo điểm b khoản Điều 59 Bộ luật dân s

5, c thể: số tiền bồi thường cho bà M là: 07 x 140.000 đồng = 98 . đồng.

- ét yêu cầu bồi thường về tổn thất tinh thần: Bà M yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần theo quy định của pháp luật, theo khoản Điều 59 Bộ luật dân s

5 quy định: “…Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”. Căn cứ vào biên bản xem xét dấu vết trên thân thể, giấy chứng nhận thư ng tích và kết luận giám định pháp y về thư ng tích của Trung tâm pháp y tỉnh An Giang, với tỷ lệ tổn thư ng c thể của bà M là %. Tại phiên tòa, bà M trình bày với tỷ lệ thư ng tích nêu trên mặc dù kh ng ảnh hư ng nhiều đến th m mỹ, kh ng gây cố tật nhưng sau khi bị gây thư ng tích đã ảnh hư ng đến tâm lý hoang mang, lo lắng, làm ảnh hư ng đến khả năng giao tiếp xã hội và c ng việc hàng ngày của bà M nên Hội đồng xét x thống nhất chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường về tổn thất tinh thần để bù đắp cho bà M phải chịu với mức là 2 tháng lư ng c s do Nhà nước quy định tại thời điểm xét x , tư ng ứng với số tiền bồi thường cho bà M: 0 x .8 . đồng = 3.6 . đồng là phù hợp theo quy định tại điểm b Điều Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 6 9

của Hội đồng Th m phán Tòa án nhân dân tối cao.

ét lời trình bày của bị đ n, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa v liên quan bà Oan Hồng C:

Bà kh ng đồng ý với yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe cho ng Lê Đức D và bà Phan Thị M đối với các chi phí nêu trên, với lý do thư ng tích của ng D, bà M không phải do bà gây ra. ét thấy bà C với ng T là vợ chồng có đăng ký kết h n theo Giấy chứng nhận đăng ký kết h n số 8 HT, quyển số I

do Ủy ban nhân dân Thị trấn Tân Châu (nay là UBND phường Long Thạnh, thị xã Tân Châu), tỉnh An Giang cấp ngày 8

(bút l c 36 ), đây là h n nhân hợp pháp làm phát sinh quyền, nghĩa v của vợ chồng được pháp luật c ng nhận và điều chỉnh. Tại phiên tòa, bà C trình bày quan hệ h n nhân gi a bà với ông T chưa chấm dứt theo quy định, vẫn còn tồn tại cho đến trước khi ng Lý H u T chết (chết ngày

6

, bút l c 36 ).

Theo các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập thấy rằng trong thời gian Cng sống, ng Lý H u T với bà Oan Hồng C có đứng tên tài sản Cng là 153,5m2 đất . Sau khi ông T chết, các đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm: ng Lý Quốc T, bà Kha Xao T, anh Lý Chấn G, anh Lý Chấn H và chị Lý Trác S đã lập văn bản từ chối nhận di sản thừa kế ngày 6 8

có c ng chứng tại Văn phòng Công chứng Phan Văn Tỷ (thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang) nên hiện nay 153,5m2 đất tại đ thị, thuộc th a đất số 9, tờ bản đồ số 7, nằm trong giấy chứng chứng nhận quyền s d ng đất quyền s h u nhà và tài sản gắn liền với đất số CS 96 của S Tài nguyên và M i trường An Giang cấp ngày 3

cho bà Oan Hồng C đứng tên, tọa lạc tại khóm L T A, phường L T, thị xã T C, tỉnh A G. Do đó xác định đây là tài sản do ng T và bà C cùng tạo lập trong thời gian Cng sống với nhau và kh ng có thỏa thuận gì khác đối với tài sản này.

Tài sản Cng của ng T, bà C tạo lập trước khi ng Lý H u T chết theo biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá ngày 4

3, quyền s d ng đất 153,5m2 đất tại đ thị trị giá là . 83.3 . (một tỷ hai trăm tám mư i ba triệu ba trăm nghìn) đồng. Trong quá trình điều tra, đã xác định ng Lý H u T có lỗi trong việc đánh nhau và gây ra thư ng tích cho ng D, bà M. ét thấy, yêu cầu bồi thường các chi phí và tổn thất mà nguyên đ n phải gánh chịu còn nằm trong phạm vi di sản của người chết để lại. Mặc khác, quá trình giải quyết v án và tại phiên tòa thể hiện anh Lý Chấn G, anh Lý Chấn H và chị Lý Trác S đều thống nhất với lời trình bày của bà Oan Hồng C, hiện nay đang sống chung nhà với bà C và không có tài sản riêng. Hội đồng xét x xét thấy chỉ cần buộc bà Oan Hồng C là người đang quản lý di sản có trách nhiệm th c hiện nghĩa v tài sản do người chết để lại, c thể là bồi thường thiệt hại sức khỏe cho ng D, bà M với lỗi của ng T đã gây ra như nhận định nêu trên là phù hợp theo quy định tại Điều 6 5 của Bộ luật dân s

5. Do đó, lời trình bày của bà Oan Hồng C kh ng đồng ý bồi thường với các khoản chi phí và tổn thất tinh thần cho nguyên đ n là kh ng có căn cứ chấp nhận.

Từ nh ng phân tích và nhận định nêu trên, xét cần buộc bà Oan Hồng C có nghĩa v th c hiện bồi thường thiệt hại sức khỏe do người chết để lại, c thể là bồi thường cho ng Lê Đức D với số tiền tổng cộng là 9.93 . đồng, bồi thường cho bà Phan Thị M tư ng ứng với mức độ lỗi như nhận định với số tiền tổng cộng là 7.974. đồng là có căn cứ chấp nhận.

Về chi phí tố t ng: Trong quá trình giải quyết v án,Tòa án có th c hiện việc định giá tài sản, ông Lê Đức D đã tạm ứng chi phí số tiền 4 . đồng, Tòa án đã th c chi 4 . đồng và đã quyết toán với ông D theo biên bản quyết toán ngày 24/10/2023, ông Lê Đức D t nguyện chịu chi phí định giá tài sản và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét x kh ng đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí dân s s th m: Bà Oan Hồng C phải chịu án phí dân s s th m theo quy định.

ét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tại phiên tòa có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét x nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 6 Điều 6, điểm a khoản Điều 35, điểm a khoản Điều 39, Điều 47, Điều 65, khoản Điều 44, khoản Điều 8, Điều 7 , Điều 73 Bộ luật Tố t ng dân s năm 5;

Căn cứ Điều 584, Điều 59 , Điều 6 5 và Điều 468 Bộ luật Dân s năm 5;

Căn cứ Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 6 9

của Hội đồng Th m phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp d ng một số quy định của Bộ luật Dân s về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;

Căn cứ Điều 6 Nghị quyết số 3 6 6 UBTVQH 4 ngày 3

6 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án.

:

1. Đình chỉ yêu cầu kh i kiện của nguyên đ n ông Lê Đức D về việc yêu cầu nh ng người thừa kế của ng Lý H u T có trách nhiệm bồi thường về thu nhập th c tế bị mất và yêu cầu bồi thường về tổn thất tinh thần.

2. Chấp nhận yêu cầu kh i kiện của ng Lê Đức D.

Buộc bà Oan Hồng C có nghĩa v th c hiện bồi thường thiệt hại sức khỏe do người chết để lại cho ng Lê Đức D với số tiền 9.93 . (hai mư i chín triệu, chín trăm ba mư i nghìn) đồng.

3. Chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của bà Phan Thị M.

Buộc bà Oan Hồng C có nghĩa v th c hiện bồi thường thiệt hại sức khỏe do người chết để lại cho bà Phan Thị M với số tiền 7.974. (bảy triệu, chín trăm bảy mư i bốn nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đ n yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân s năm 5.

4. Về án phí dân s s th m: Bà Oan Hồng C phải chịu 3 . (ba trăm nghìn) đồng án phí dân s s th m.

5. Các đư ng s có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ