vanban.org

Bản án 78/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên Tuyên án 17/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn M phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn M: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. * Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn M cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn M phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TUY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2022/HSST
Ngày: 17/9/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Xuân Thu;

Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Nghĩa và bà Mai Thị Ngọc Tuyết

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hữu - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 77/2022/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2022/QĐST - HS ngày 31 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Lê Văn M (tên khác: Lê Văn N, Heo), sinh năm 1996. Nơi ĐKHKTT: 156B đường L, phường X, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Không; Cha: Lê Văn T, sinh năm 1970; Mẹ: Đỗ Thị Đ, sinh năm 1975; Vợ: Nguyễn Bách Gia L, sinh năm 1996. Có 01 con sinh năm 2016. Tiền án: Ngày 27/10/2017, bị Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên xử phạt 09 tháng tù về tội Không tố giác tội phạm, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/9/2018, chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm. Tiền sự: Ngày 28/12/2020, bị Công an phường 8, thành phố Tuy Hòa xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Nhân thân:

- Ngày 31/7/2014, bị Công an Phường 2, thành phố Tuy Hòa xử phạt vi phạm hành chính số tiền 200.000đ về hành vi Gây mất trật tự tại trụ sở cơ quan. - Ngày 04/11/2014, bị Công an thành phố Tuy Hòa xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000đ về hành vi Cố ý gây thương tích. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Anh Huỳnh Bảo Q, sinh năm 1976; Vắng mặt (có yêu cầu xét xử vắng mặt) Địa chỉ: 108 đường N, phường L, thành phố T, tỉnh Phú Yên.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Xuân K, sinh năm 1980; Vắng mặt. Địa chỉ: khu phố L, phường Y, thị xã H, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 16/12/2021, Lê Văn M đến Cơ sở sản xuất đá Bảo Quốc, địa chỉ 108 đường N, phường X, thành phố T để mua đá uống bia thì giữa M và anh Huỳnh Bảo Q (chủ cơ sở sản xuất đá Bảo Quốc) xảy ra mâu thuẫn chửi bới nhau, rồi M bỏ đi. M đến quán nhậu của anh Lê Văn L hỏi mượn mã tấu, L hỏi mượn làm gì, M nói Q đòi đánh, L nói M xuống bếp lấy mã tấu, M điều khiển xe mô tô biển số 78C1-294.07 cầm theo mã tấu đến nhà Nguyễn Quốc T, sinh năm 1997, trú 17/4 đường C, Phường D, thành phố T, M nhờ T chở M đi trả mã tấu. Thấy M đã say và sợ M đi đánh nhau nên T đồng ý điều khiển xe mô tô chở M đi theo sự chỉ đường của M. Khi T chở M đi ngang nhà anh Q thì M nhảy xuống xe rồi cầm mã tấu chém vào kính trước và đèn xi nhan trái trước xe ô tô tải, biển số 78C-049.89 của anh Q, rồi M tiếp tục chém vào đèn trước và đèn xi nhan phải trước xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 72L7-1527 (xe của anh Nguyễn Xuân K cho anh Q mượn sử dụng) đang dựng trước nhà anh Q. Do L nghĩ sợ M đi đánh nhau nên cầm rựa chạy theo để giúp M đánh nhau, tới nhà anh Q, L thấy M đập phá tài sản nên L bỏ về. Sau khi đập phá tài sản xong, M lên xe T chở về nhà T, rồi M đi một mình đem trả mã tấu cho L.

Bản kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐ ngày 11/02/2022 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Tuy Hòa: chi phí sữa chữa, thay thế, khắc phục kính chắn gió phía trước, cụm đèn xi nhan trái trước xe ô tô tải 78C-049.89 là 4.700.000đ; chi phí sữa chữa, thay thế, khắc phục đèn trước và đèn xin nhan phải trước xe mô tô 72L7-1527 là 3.200.000 đ. Tổng giá trị tài sản bị hư hỏng là 7.900.000đ.

Cáo trạng số 67/CT - VKSTH ngày 12/8/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa đã truy tố bị cáo Lê Văn M về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 178 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa trình bày lời luận tội và đề nghị: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung cáo trạng, tuyên bố bị cáo Lê Văn M phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 178, điểm d, h khoản 1, Điều 52, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo M từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù. Về dân sự: bị cáo M tiếp tục bồi thường số tiền 1.500.000đ cho bị hại Q. Về án phí: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo Lê Văn M trình bày diễn biến hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại cho Quốc 4.500.000đ, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về thủ tục tố tụng: Việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, thu thập chứng cứ và các hoạt động tố tụng khác đảm bảo đúng thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan và người tiến hành tố tụng nên không nhận xét gì thêm.

Về tội danh và khung hình phạt: Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 20 giờ ngày 16/12/2021, tại Cơ sở sản xuất đá Bảo Quốc địa chỉ 108 đường N, phường X, thành phố T, Lê Văn M có hành vi dùng cây mã tấu chém vào kính trước, đèn xi nhan trái trước xe ô tô tải nhãn hiệu Huyndai biển số 78C-049.89 và chém vào đèn trước, đèn xi nhan phải trước xe mô tô nhãn hiệu Honda biển số 72L7-1527 của anh Huỳnh Bảo Q gây hư hỏng trị giá 7.900.000đ. Do đó, hành vi của bị cáo Lê Văn M đã phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định tại khoản 1, Điều 178 của Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an ninh tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn, chỉ vì anh Q không bán đá mà bị cáo đập phá tài sản của anh Q nên phạm tội có tính chất côn đồ. Bị cáo đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà lại tiếp tục phạm tội do cố ý thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm d, h khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội đã nộp số tiền 4.500.000đ để khắc phục hậu quả cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên áp dụng điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về đặc điểm nhân thân: Bị cáo M có 01 tiền án về tội Không tố giác tội phạm, 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và có nhân thân xấu về hành vi gây mất trật tự tại trụ sở cơ quan và cố ý gây thương tích vào năm 2014, nhưng lại không chịu rèn luyện, tu dưỡng mà lại có hành vi đập phá tài sản của người khác.

Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự, cách ly bị cáo M ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Tổng giá trị thiệt hại mà bị cáo M đập phá tài sản của anh Huỳnh Bảo Q là 7.900.000đ. Tuy nhiên, anh Q chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 6.000.000đ là thấp hơn với giá trị thiệt hại nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Q, buộc bị cáo bồi thường cho anh Q số tiền 6.000.000đ.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 4.500.000đ mà bị cáo M nộp bồi thường thiệt hại để bảo đảm thi hành án.

Đối với anh Lê Văn L cho bị cáo M mượn mã tấu và Nguyễn Quốc T điều khiển xe mô tô chở bị cáo: Do L và T đều không biết M đến nhà anh Q để đập phá tài sản nên hành vi của L, T không phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản.

Về án phí: bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn M phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản

Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm d, h khoản 1, Điều 52, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn M: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Bị cáo Lê Văn M phải bồi thường cho anh Huỳnh Bảo Q số tiền 6.000.000đ (Sáu triệu đồng).

Tiếp tục tạm giữ số tiền 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) mà bị cáo Lê Văn M nộp khắc phục hậu quả theo Biên lai thu tiền số 0002426 ngày 08/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hoà để đảm bảo thi hành án.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có yêu cầu của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

* Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Lê Văn M phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ