- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy K - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2022/HS-ST Ngày: 22-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Phong Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đoàn Văn Phồi;
2. Ông Đặng Thế Ứng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhàn - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Đặng Duy Thanh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Duy K (tên gọi khác: Không), sinh ngày 13 tháng 3 năm 1997, tại tỉnh Tiền Giang;
- Nơi cư trú: Ấp M, xã Q, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang;
- Nghề nghiệp: Làm thuê;
- Trình độ văn hoá (học vấn): 06/12;
- Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
- Con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T;
- Bị cáo chưa có vợ, con;
- Tiền án: Không có;
- Tiền sự: Không có;
- Đặc điểm nhân thân: Ngày 07/6/2016, bị Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo Bản án số 67/2016/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt vào ngày 26/10/2016;
- Bị cáo bị tạm giữ ngày 31/5/2022, chuyển sang tạm giam từ ngày 03/6/2022 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang cho đến nay;
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
1/ Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang; (xin vắng mặt)
Người đại diện theo pháp luật: Bà Đặng Thị Thu T - Chức vụ: Chủ tịch;
Địa chỉ cơ quan: Ấp H, xã Q, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
2/ Ủy ban nhân dân xã N, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang; (xin vắng mặt)
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T - Chức vụ: Chủ tịch;
Địa chỉ cơ quan: Ấp P, xã N, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
3/ Ủy ban nhân dân xã P, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang; (xin vắng mặt)
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn N - Chức vụ: Chủ tịch;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn P - Chức vụ: Phó Chủ tịch;
Địa chỉ cơ quan: Ấp B, xã P, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
4/ Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang; (xin vắng mặt)
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Đ - Chức vụ: Chủ tịch;
Địa chỉ cơ quan: Ấp H, xã H, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Duy K, sinh ngày 13/3/1997, thường trú tại ấp M, xã Q, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nảy sinh ý định trộm cắp các nắp đậy bể chứa bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng được lắp đặt trên các tuyến đường thuộc địa bàn thị xã Cai Lậy.
Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 28/5/2022, Nguyễn Duy K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RS, màu đỏ, mang biển kiểm soát số 63X2-0124 di chuyển đến các địa điểm thuộc ấp B để lấy trộm 03 nắp đậy bể chứa bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng của Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang được lắp đặt trên tuyến đường huyện lộ 54B, rồi để lên xe mô tô chở đi bán cho vựa phế liệu Trâm Ngọc Phát thuộc Khu phố X, Phường Y, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang được số tiền là 450.000 đồng và tiêu xài hết. Nhận được tin báo về tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đã tiến hành điều tra, xác minh và làm rõ, từ đó phát hiện và bắt khẩn cấp Nguyễn Duy K về hành vi trộm cắp tài sản.
Vật chứng thu giữ được bao gồm:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RS, màu đỏ, mang biển kiểm soát số 63X2-0124;
- 01 đĩa DVD chứa dữ liệu điện tử là hình ảnh camera vụ trộm được niêm phong trong một bì thư được dán kín có chữ ký giáp lai của ông Triệu Văn T và điều tra viên Chế Vãn Ngọc Thanh N;
- 02 tấm kim loại có kích thước 121 x 121 cm, ở giữa có nắp mở kích thước 40 x 34,5 cm là nắp đậy bể chứa bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng ;
- 01 cây kềm cắt, màu đỏ, dài 20cm;
- 01 đôi dép màu xanh trắng, có chữ “Nike”, dưới đế dép có in số 8;
- 01 quần dài nam, vải kaki, size 28, màu xám;
- 01 áo sơ mi dài tay, sọc caro, màu trắng đen;
- 01 nón kết bằng vải, màu đen.
Quá trình điều tra, Nguyễn Duy K khai nhận: Trong khoảng thời gian từ ngày 23/5/2022 đến 29/5/2022, K đã tiến hành trộm cắp 04 vụ khác, với tổng cộng là 15 nắp đậy bể chứa bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng trên khắp các tuyến đường thuộc các xã H, P, Q và xã N, cùng thuộc thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 08 giờ ngày 23/5/2022, K điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát đó 63X2- 0124 di chuyển đến các địa điểm thuộc ấp Phú Hòa để lấy trộm 02 nắp đậy bể chứa bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng của Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang được lắp đặt trên tuyên đường huyện lộ 54, rồi đem đi bán cho vựa phế liệu Trâm Ngọc Phát được số tiền là 300.000 đồng. Ngay sau đó, K quay lại địa phận ấp A và tiếp tục trộm 02 nắp đậy bể chứa khác của Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang được lắp đặt trên tuyến đường huyện lộ 54, rồi tiếp tục đem bán cho vựa phế liệu Trâm Ngọc Phát được số tiền là 300.000 đồng. Số tiền 600.000 đồng nói trên bị cáo đã tiêu xài hết.
Vụ thứ hai: Khoảng 07 giờ ngày 24/5/2022, K điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát đó 63X2- 0124 di chuyển đến các địa điểm thuộc ấp T và tiến hành trộm 02 nắp đậy bể chứa bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng của Ủy ban nhân dân xã N, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang được lắp đặt trên tuyến đường tránh thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, rồi đem bán cho vựa phế liệu Trâm Ngọc Phát được số tiền 300.000 đồng. Ngay sau đó, K tiếp tục điều khiển xe mô tô di chuyển đến địa phận ấp H và tiến hành trộm 02 nắp đậy bể chứa của Ủy ban nhân dân xã P, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang được lắp đặt trên tuyến đường Dây Thép, rồi đem bán cho vựa phế liệu Trâm Ngọc Phát được 300.000 đồng. Số tiền 600.000 đồng nói trên bị cáo đã tiêu xài hết.
Vụ thứ ba: Khoảng 09 ngày 27/5/2022, Nguyễn Duy K điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát đó 63X2- 0124 di chuyển đến các địa điểm thuộc ấp H và tiến hành trộm 03 nắp đậy bể chứa bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng của Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang được lắp đặt trên tuyến đường huyện lộ 54B, rồi đem bán cho vựa phế liệu Trâm Ngọc Phát được số tiền là 450.000 đồng và tiêu xài hết.
Vụ thứ tư: Khoảng 09 giờ ngày 29/5/2022, Nguyễn Duy K điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát đó 63X2- 0124 di chuyển đến địa điểm thuộc ấp S và tiến hành trộm 01 nắp đậy bể chứa bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng của Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang được lắp đặt trên tuyến đường huyện lộ 63. K tiếp tục di chuyển đến địa phận ấp H và tiến hành trộm 01 nắp đậy bể chứa khác của Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang được lắp đặt trên tuyến đường huyện lộ 54B. Sau khi trộm 02 nắp đậy trên, K đem đi bán cho vựa phế liệu của chị Nguyễn Thị Trúc Linh, sinh năm 1993 tại ấp Thanh Hiệp, xã H, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang được số tiền là 300.000 đồng. Sau khi bán xong, K điều điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát đó 63X2- 0124 di chuyển đến các địa điểm thuộc ấp B và trộm 02 nắp đậy bể chứa của Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang được lắp đặt trên tuyến đường huyện lộ 54B, rồi tiếp tục đem bán cho vựa phế liệu của chị Nguyễn Thị Trúc Linh nêu trên được số tiền 300.000 đồng. Số tiền 600.000 đồng nói trên bị cáo đã tiêu xài hết.
Vật chứng thu giữ đối với 04 vụ trộm cắp nêu trên: Không.
* Về kết quả định giá tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt:
- Bản kết luận định giá số 39 ngày 31/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Cai Lậy xác định: 04 nắp đậy bể chứa bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng mà K trộm của Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang vào ngày 23/5/2022 có tổng giá trị là 3.068.000 (ba triệu không trăm sáu mươi tám nghìn) đồng.
- Bản kết luận định giá số 40 ngày 31/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Cai Lậy xác định: 02 nắp đậy bể chứa bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng mà K trộm của Ủy ban nhân dân xã N, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang vào ngày 24/5/2022 có tổng giá trị là 1.534.000 (một triệu năm trăm ba mươi bốn nghìn) đồng.
- Bản kết luận định giá số 41 ngày 31/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Cai Lậy xác định: 03 nắp đậy bể chứa bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng mà K trộm của Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang vào ngày 27/5/2022 có tổng giá trị là 2.301.000 (hai triệu ba trăm lẻ một nghìn) đồng.
- Bản kết luận định giá số 42 ngày 31/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Cai Lậy xác định: 03 nắp đậy bể chứa bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng mà K trộm của Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang vào ngày 28/5/2022 có tổng giá trị là 2.301.000 (hai triệu ba trăm lẻ một nghìn) đồng.
- Bản kết luận định giá số 43 ngày 31/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Cai Lậy xác định: 04 nắp nắp đậy bể chứa bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng mà K trộm của Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang vào ngày 29/5/2022 có tổng giá trị là 3.068.000 (ba triệu không trăm sáu mươi tám nghìn) đồng.
- Bản kết luận định giá số 44 ngày 31/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Cai Lậy xác định: 02 nắp nắp đậy bể chứa bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng mà K trộm của Ủy ban nhân dân xã P, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang vào ngày 24/5/2022 có tổng giá trị là 1.952.000 (một triệu chín trăm năm mươi hai nghìn) đồng.
* Về xử lý vật chứng trong quá trình điều tra:
Ngày 13/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đã ra quyết định xử lý vật chứng như sau:
- Trao trả 02 nắp đậy bể chứa bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng cho Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang;
- Trao trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RS, màu đỏ, mang biển kiểm soát số 63X2-0124 cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn T.
* Về trách nhiệm dân sự:
- Những người đại diện hợp pháp của các bị hại là Ủy ban nhân dân các xã H, Q, N và xã P yêu cầu bị cáo Nguyễn Duy K phải bồi thường giá trị các nắp đậy bể chứa bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng mà bị cáo K đã chiếm đoạt nhưng không thu hồi được. Mức bồi thường được xác định căn cứ theo Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Cai Lậy;
- Bị cáo Nguyễn Duy K đồng ý bồi thường thiệt hại và thống nhất về mức bồi thường nhưng hiện tại không có khả năng kinh tế để bồi thường.
* Cáo trạng số 63/CT-VKSTXCL ngày 23 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Nguyễn Duy K để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
* Tại phiên tòa:
1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang giữ quyền công tố, trình bày tranh luận và luận tội:
- Giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Duy K;
- Đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Áp dụng Điều 32, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù;
+ Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
. Đối với vật chứng mà Cơ quan Điều tra đã xử lý xong, không ai có yêu cầu xem xét lại nên không đặt ra xem xét, xử lý;
. Tịch thu và tiêu hủy đối với 01 cây kềm cắt, màu đỏ, dài 20cm; 01 đôi dép màu xanh trắng, có chữ “Nike”, dưới đế dép có in số 8; 01 quần dài nam, vải kaki, size 28, màu xám; 01 áo sơ mi dài tay, sọc caro, màu trắng đen và 01 nón kết bằng vải, màu đen.
+ Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Duy K phải bồi thường cho các bị hại theo giá mà Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Cai Lậy đã kết luận;
2. Những người đại diện hợp pháp của các bị hại đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa và gởi đến Tòa án văn bản yêu cầu bị cáo Nguyễn Duy K bồi thường thiệt hại với các mức bồi thường như sau:
- Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với 08 nắp đậy bể chứa với số tiền là 6.136.000 đồng;
- Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với 04 nắp đậy bể chứa với số tiền là 3.068.000 đồng;
- Ủy ban nhân dân xã N, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với 02 nắp đậy bể chứa với số tiền là 1.534.000 đồng;
- Ủy ban nhân dân xã P, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với 02 nắp đậy bể chứa với số tiền là 1.952.000 đồng;
3. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đã truy tố. Đồng thời, bị cáo không có ý kiến gì về việc xử lý vật chứng, yêu cầu bồi thường thiệt hại, cũng như mức bồi thường thiệt hại.;
4. Ý kiến tranh luận của bị cáo:
- Không có ý kiến và thống nhất đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa;
- Bị cáo đồng ý bồi thường cho các bị hại số tiền mà các bị hại đã yêu cầu. Tuy nhiên, hiện nay bị cáo không có thu nhập nên chưa thể bồi thường.
5. Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã ăn năn, hối hận về hành vi của mình. Xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm về đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:
- Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát thu thập là hợp pháp.
- Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, do vậy hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án:
Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Nguyễn Duy K tại phiên tòa hôm nay cho thấy: Trong khoảng thời gian từ ngày 23/5/2022 đến ngày 29/5/2022, tại địa bàn các xã H, Q, N và xã P, cùng thuộc thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, bị cáo Nguyễn Duy K đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 18 nắp đậy bể chứa bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng thuộc sự quản lý của Ủy ban nhân dân các xã H, Q, N và xã P, cùng thuộc thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang để đem đi bán nhằm lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 14.224.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp lời khai của những người liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Duy K phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy K với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Hành vi phạm tội của bị cáo là xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Đặc biệt, tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là tài sản thuộc quyền quản lý của cơ quan nhà nước nhằm phục vụ đời sống cho người dân ở địa phương. Bị cáo là người đã thành niên, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật và ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người dân nhưng do vụ lợi cá nhân nên bất chấp Thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội do đó cần phải được xử lý nghiêm thì mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về đặc điểm nhân thân của bị cáo:
Bị cáo từng bị Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo Bản án số 67/2016/HSST ngày 07/6/2016. Bị cáo chấp hành xong hình phạt chính là phạt tù vào ngày 26/10/2016 và thi hành xong đối với phần dân sự nên đã được xóa án tích. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử nhận thấy, bị cáo đã từng bị xử phạt về hành vi trộm cắp, sau khi chấp hành xong hình phạt, bị cáo không thay đổi mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội điều này chứng tỏ bị cáo có thái độ xem thường pháp luật và việc xử phạt bị cáo ở bản án trước đây chưa đủ tính răn đe, giáo dục và cải tạo bị cáo.
Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội sau này.
Về trách nhiệm dân sự:
- Các bị hại yêu cầu bị cáo Nguyễn Duy K bồi thường thiệt hại với các mức bồi thường như sau:
+ Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với 08 nắp đậy bể chứa với số tiền là 6.136.000 đồng;
+ Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với 04 nắp đậy bể chứa với số tiền là 3.068.000 đồng;
+ Ủy ban nhân dân xã N, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với 02 nắp đậy bể chứa với số tiền là 1.534.000 đồng;
+ Ủy ban nhân dân xã P, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với 02 nắp đậy bể chứa với số tiền là 1.952.000 đồng;
- Xét thấy, yêu cầu bồi thường của các bị hại là phù hợp theo quy định của pháp luật tại các Điều 584 và Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Duy K thống nhất về mức bồi thường và đồng ý bồi thường thiệt hại cho các bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Xử lý vật chứng:
- Các vật chứng mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đã ra quyết định xử lý là phù hợp theo quy định pháp luật, không có ai có ý kiến gì về việc xử lý vật chứng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét;
- Đối với các vật chứng là 01 cây kềm cắt, màu đỏ, dài 20cm đây là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu và tiêu hủy;
- Đối với các vật chứng gồm: 01 đôi dép màu xanh trắng, có chữ “Nike”, dưới đế dép có in số 8; 01 quần dài nam, vải kaki, size 28, màu xám; 01 áo sơ mi dài tay, sọc caro, màu trắng đen và 01 nón kết bằng vải, màu đen. Đây là những vật dụng bị cáo mang theo khi phạm tội. Tại phiên tòa, bị cáo đề nghị không nhận lại các tài sản trên nên cần tịch thu và tiêu hủy.
Các vật chứng hiện do cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14/9/2022.
Về biện pháp tư pháp:
Quá trình điều tra xác định bị cáo đã bán tài sản chiếm đoạt được và thu lợi được số tiền là 2.700.000 đồng, bị cáo khai nhận tiêu xài hết. Xét thấy, đây là số tiền thu lợi bất chính nên cần buộc bị cáo K nộp lại để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Về các vấn đề khác trong vụ án:
- Ông Nguyễn Văn T có hành vi cho bị cáo Nguyễn Duy K mượn xe mô tô mang biển kiểm soát số 63X2-0124, nhưng không biết K sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nên không có dấu hiệu của tội phạm.
- Lương Đoàn Minh N, Nguyễn Thành N và Nguyễn Thị Trúc L có hành vi mua các nắp đậy bể chứa do bị cáo Nguyễn Duy K đem bán, nhưng không biết tài sản này là do K trộm cắp mà có nên không phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
- Số tiền có được từ việc bán tài sản trộm cắp mà có, bị cáo Nguyễn Duy K dùng để mua ma túy của một người không rõ danh tính ở huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang để sử dụng. Do chưa xác định được nhân thân người bán nên đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.
- Bị cáo Nguyễn Duy K trộm cắp 05 lần, giá trị tài sản chiếm đoạt mỗi lần đều trên 02 triệu đồng. Tuy nhiên, trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có nghề nghiệp là đi làm thuê, K không lấy các lần phạm tội làm nghề để sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính. Do đó, không áp dụng tình tiết định khung tăng nặng là “Có tính chất chuyên nghiệp” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 .
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang là phù hợp toàn bộ nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo và các bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 32, 38, 46, 47, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Điều 106, 135, 136, 290, 292, 299, 326, 327, 331, 333 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điều 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 31 tháng 5 năm 2022.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu và tiêu hủy đối với:
+ 01 cây kềm cắt, màu đỏ, dài 20cm;
+ 01 đôi dép màu xanh trắng, có chữ “Nike”, dưới đế dép có in số 8;
+ 01 quần dài nam, vải kaki, size 28, màu xám;
+ 01 áo sơ mi dài tay, sọc caro, màu trắng đen;
+ 01 nón kết bằng vải, màu đen.
Vật chứng hiện đang do cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14/9/2022.
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Duy K phải bồi thường thiệt hại cho các bị hại với tổng số tiền là 12.690.000 đồng. Cụ thể như sau:
- Bồi thường cho Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang số tiền là 6.136.000 đồng;
- Bồi thường cho Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang số tiền là 3.068.000 đồng;
- Bồi thường cho Ủy ban nhân dân xã N, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang số tiền là 1.534.000 đồng;
- Bồi thường cho Ủy ban nhân dân xã P, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang số tiền là 1.952.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bị hại cho đến khi thi hành án xong, bị cáo Nguyễn Duy K còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Nguyễn Duy K nộp vào ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính là 2.700.000 đồng.
5. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Duy K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm với số tiền là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 634.500 đồng.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Duy K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
7. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND thị xã Cai Lậy; - Chi cục THADS thị xã Cai Lậy; - Công an thị xã Cai Lậy; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Phong Hiếu |