vanban.org

Bản án 78/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 27/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Lê Văn N 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành bản án. Về bồi thường dân sự: Buộc bị cáo Lê Văn N và anh Lê Văn Cung liên đới bồi thường cho anh Lê Văn Dũng số tiền 700.000đ (bảy trăm ngàn đồng) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn N Trộm cáp TS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật dân sự - Tuyên bố; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HÓA
Bản án số:78/2022/HS-ST
Ngày: 27/01/2022.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Tiến

2. Bà Mai Thị Tiếp

- Thư ký phiên toà: Trần Minh Phương - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Thu Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 01 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 71/2021/ HSST ngày 21 tháng 12 năm 2021 theo “Quyết định đưa vụ án ra xét xử” số 75/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2022 và Thông báo mở lại phiên tòa số 24/ TB-TA ngày19/01/2022 đối với:

Bị cáo Lê Văn N ; Sinh năm: 1988

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn ĐS, xã HP, huyện HH, tỉnh TH; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn D , sinh năm 1944 và bà Đỗ Thị L , sinh năm 1941; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.

Tiền án: Không

Tiền sự: - Ngày 27/01/2021 Công an phường Đông Hải, TP. Thanh Hóa ra quyết định xử lý vi phạm hành chính về hành vi "Trộm cấp tài sản"; Ngày 02/6/2021 Công an phường Đông Hải, TP. Thanh Hóa ra quyết định xử phạt vi phạm chính về hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; Ngày 27/7/2021 bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường thị trấn theo QĐ số 85/QĐ-UBND xã Hoằng Phong.

Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác tại nhà tạm giam Công an huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)

Người bị hại: Lê Văn Dũng, sinh năm 1973 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Kiều Tiến, xã Hoằng Đại, TP.Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Người có QLNVLQ: Lê Văn Cung, sinh năm 1993

Trú tại: Thôn Nam Hạc, xã Hoằng Phong, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10h30 ngày 14/8/2021, Lê Văn Cung, sinh năm 1993 (trú tại thôn Nam Hạc, xã Hoằng Phong, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa đến nhà rủ N đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu. Cung sử dụng xe mô tô BKS 36L7- 6097 mượn của anh Lường Xuân Trúc chở N lên thành phố Thanh Hóa, khi đến khu vực thôn Kiều Tiến, xã Hoằng Đại, thành phố Thanh Hóa cả hai phát hiện thấy tại xưởng cơ khí của gia đình anh Lê Văn Dũng có 01 bộ giàn giáo, để trước cửa sát với đường đi, không có người trông coi, Cung dừng xe và đứng bên ngoài cảnh giới, N đi vào bê bộ giàn giáo mang ra để lên yên xe rồi cùng Cung mang đi tìm nơi tiêu thụ. Khi cả hai đi đến địa phận xã Hoằng Quang thì bị Công an xã Hoằng Quang, TP. Thanh Hóa dừng xe kiểm tra. Trong lúc kiểm tra Cung bỏ chạy, N bị đưa về trụ sở lập biên bản cùng tang vật. Chiều cùng ngày Cung đến Công an xã Hoằng Quang khai báo sự việc.

Tại cơ quan CSĐT Lê Văn N và Lê Văn Cung đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên.

Ngoài ra, cả N và Cung đều khai nhận trước ngày 14/8/2021 mấy ngày (N và Cung không nhớ ngày cụ thể), cũng với thủ đoạn như trên N và Cung đã lấy trộm một bộ giàn giáo khác tại xưởng cơ khí của gia đình anh Lê Văn Dũng, sau đó cả hai đem đến thị trấn Bút Sơn, huyện Hoằng Hóa bán tài sản này cho một người phụ nữ không rõ lai lịch lấy 170.000 đồng chia nhau sử dụng hết.

Anh Lê Văn Dũng khai báo: Từ đầu tháng 8/2021 đến ngày 14/8/2021 gia đình anh bị mất 02 bộ giàn giáo tổng trị giá là 1.400.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 126/KL-HĐĐGTS ngày 27/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Thanh Hóa kết luận: 02 (hai) bộ giàn giáo khung chất liệu được làm bằng kim loại hình ống dài (phi 42), quy cách (1,7 x 1,25)m gồm: 02 khung giàn giáo và 04 thanh giằng chéo kích thước mỗi thanh 1,6m bộ tự chế đã qua sử dụng. Tổng trị giá 1.400.000đ (700.000đ/bộ).

Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Dũng 01 bộ giàn giáo. Anh Dũng đã nhận lại tài sản đồng thời yêu cầu N và Cung bồi thường số tiền 700.000đ giá trị bộ giàn giáo không thu hồi được.

Đối với xe mô tô BKS 36L7- 6097, chủ sở hữu hợp pháp là anh Lường Xuân Trúc. Ngày 14/8/2021 anh Trúc cho Cung mượn xe để đi mua cháo cho con, việc Cung sử dụng xe đi trộm cắp tài sản anh Trúc không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thanh Hóa đã trả lại xe mô tô cho anh Trúc, anh Trúc nhận xe và không có yêu cầu gì.

Đối với Lê Văn Cung, không có tiền án tiền sự, giá trị tài sản trộm cắp dưới 2.000.000đ. Cơ quan điều tra chuyển công an TP. Thanh Hóa xử phạt hành chính

Tại bản cáo trạng số 27/CTr-VKSTPTH ngày 20 tháng 12 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lê Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 - của Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt Lê Văn N từ 09 đến 12 tháng tù; Phần dân sự buộc N và Cung liên đới bồi thường cho anh Dũng số tiền 700.000đ; Bị cáo phải chịu án phí HSST và án phí dân sự theo quy định pháp luật.

Bị cáo Lê Văn N thừa nhận hành vi phạm tội và xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật với mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào đầu tháng 8/20201 và ngày 14/8/2021, tại gia đình anh Lê Văn Dũng (thôn Kiều Tiến, xã Hoằng Đại, thành phố Thanh Hóa), Lê Văn N đã có hành vi lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý trông coi tài sản, N đã cùng Lê Văn Cung lén lút chiếm đoạt của anh Dũng 02 bộ giàn giáo khung chất liệu được làm bằng kim loại hình ống dài (phi 42) đã qua sử dụng trị giá 1.400.000đ, nhằm mục đích bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Tuy tài sản N và Cung trộm cắp dưới 2.000.000đ song N đã bị Công an phường Đông Hải, TP. Thanh Hóa ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi "Trộm cắp tài sản" ngày 27/01/2021. Do vậy hành vi của N đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo theo điểm a khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người đúng tội đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án: Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc trông coi quản lý tài sản, lén lút chiếm đoạt tài sản là 02 bộ giàn giáo khung làm bằng kim loại của gia đình anh Dũng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây mất trật tự trị an trong khu vực, thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52-BLHS.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51- Bộ luật hình sự. Do đó, HĐXX xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử phạt hành chính nhưng không ăn năn hối cãi, không cố gắng sửa chữa lỗi lầm mà tiếp tục phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy cần cách ly bị cáo khỏi đời sống cộng đồng xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và để phòng ngừa tội phạm chung.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại yêu cầu N và Cung bồi thường số tiền 700.000đ là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận, buộc N và Cung phải liên đới bồi thường cho anh Dũng số tiền 700.000đ

Về vật chứng: Đối với xe mô tô BKS 36L7- 6097 là của anh Lường Xuân Trúc, anh Trúc cho Cung mượn xe để sử dụng làm phương tiện đi lại, việc Cung sử dụng xe đi trộm cắp tài sản anh Trúc không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thanh Hóa đã trả lại xe mô tô cho anh Trúc; Đối với bộ giàn giáo, trả lại cho anh Dũng, như vậy là đúng quy định tại Điều 106 Bộ luật TTHS.

Đối với Lê Văn Cung, tài sản Cung cùng Năm trộm cắp có giá trị dưới 2.000.000đ, Cung chưa bị xử phạt hành chính hoặc kết án về hành vi chiếm đoạt tài sản nên không cấu thành tội trộm cắp tài sản. Do đó Cơ quan điều tra chuyển Cơ quan Công an TPTH xử phạt hành chính đối với Cung là đúng pháp luật.

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự; Lê Văn Cung phải chịu án phí dân sự, theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016;

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 589 - Bộ luật dân sự

- Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt: Lê Văn N 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành bản án.

- Về bồi thường dân sự: Buộc bị cáo Lê Văn N và anh Lê Văn Cung liên đới bồi thường cho anh Lê Văn Dũng số tiền 700.000đ (bảy trăm ngàn đồng)

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 99 BLTTHS; khoản 1 điều 21; điểm a, c khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Văn N phải chịu 200.000đ án phí HSST và 150.000đ án phí dân sự; Anh Lê Văn Cung phải chịu 150.000đ án phí dân sự giá ngạch.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Văn N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Lê Văn Dũng, anh Lê Văn Cung có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ