vanban.org

Bản án 78/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 24/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Mai Viết Th (tên gọi khác: không)

Phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 174, Điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Viết Th phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Mai Viết Th (tên gọi khác: không)
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MÓNG CÁI
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2022/HS-ST
Ngày 24-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Cao Văn

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Thế Căn và bà Nguyễn Thị Hảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Lục Thanh Hương là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái tham gia phiên tòa: bà Tạ Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 79/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2022; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2022/HSST-QĐ ngày 10 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

* Họ và tên: Mai Viết Th (tên gọi khác: không); giới tính: nam; sinh ngày: 03/02/1983, tại Hạ Long, Quảng Ninh; nơi cư trú: khu 4, phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: không; con ông Mai Đức T1 (đã chết) và bà Dương Thị T2, sinh năm: 1954; anh em ruột có bốn người, bị cáo là thứ tư; vợ: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1984; con: có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: chưa; nhân thân: ngày 12/7/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 4 tháng 23 ngày tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; bị cáo đầu thú ngày 01/5/2022, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: ông Nguyễn Bá Ng, sinh năm 1959, địa chỉ: khu 7, xã H, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Hoàng Dương T3, sinh năm 1976, địa chỉ: khu 2, phường Việt Hưng, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

* Người làm chứng:

- Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1990, địa chỉ: khu 7, phường Hải Yên, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1985, địa chỉ: khu 2, phường Hải Hoà, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1983, địa chỉ: khu 2, phường H, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

- Anh Vũ Duy P, sinh năm 1973, địa chỉ: khu 2, phường H1, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 4 năm 2022, Mai Viết Th có quen biết chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1990, Th giới thiệu là Đội trưởng đội trọng án đang công tác tại Bộ Công an. Ngày 25/4/2022, chị T có nói cho Th về việc bố nhận của chị là ông Nguyễn Bá Ng, sinh năm 1959 cùng 02 con trai là anh Nguyễn Văn Ch và anh Nguyễn Văn S đánh gây thương tích cho anh Vũ Duy P. Ông Nguyễn Bá Ng đã nhờ chị T bảo Th tác động giải quyết giúp vụ việc trên. Do không có tiền tiêu xài cá nhân, Th đã nảy sinh ý định lợi dụng việc chị T nhờ để chiếm đoạt tiền. Với ý định đó, thông qua chị T, Th bảo ông Ng phải đưa cho Th 60.000.000đồng để đưa cho Công an. Do tin tưởng Th là Công an nên ông Ng đồng ý. Sau đó, Th lên mạng Internet tìm kiếm mẫu biên bản ghi lời khai rồi đánh máy, in ra để chuẩn bị sử dụng.

Ngày 26/4/2022, Th ra thành phố Móng Cái và ở tại phòng 501 Khách sạn Central thuộc Khu 2, phường Hòa Lạc, thành phố Móng Cái. Để tạo niềm tin cho ông Ng, Th đưa chị T, ông Ng, anh S và anh Ch cùng đến gặp anh P. Tại đây, Th giới thiệu là cán bộ Công an và đứng ra đề nghị gia đình ông Ng bồi thường cho anh P, để rút đơn trình báo nhưng anh P không đồng ý. Tiếp tục, đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Th gọi điện thoại chị T, ông Ng, anh S và anh Ch đến khánh sạn Central để ghi lời khai ông Ng vào Biên bản đã chuẩn bị trước đó và yêu cầu ông Ng ký vào từng trang biên bản. Thấy vậy, chị T sử dụng điện thoại di động để chụp ảnh lưu lại. Chị T nhận thấy cách đặt câu hỏi, cách ghi biên bản và cho ông Ng ký vào từng trang rất giống thao tác của cán bộ Công an thật nên đến sáng ngày 27/4/2022, chị T đến Khách sạn trên đưa cho Th số tiền 60.000.000 đồng, để lo liệu việc bên Công an (ông Ng đã đưa chị T số tiền này vào sáng ngày 26/4/2022). Sau khi nhận được tiền, Th lấy 8.000.000 đồng đưa chị T để chi tiêu, còn giữ lại 52.000.000 đồng. Nhằm tránh bị nghi ngờ, khoảng 13 giờ ngày 27/4/2022, Th tiếp tục gọi anh S và anh Ch đến Khách sạn ghi lời khai. Khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày, Th đến Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Móng Cái chuyển 35.000.000 đồng vào tài khoản của Th.

Ngày 28/4/2022, Th đưa chị T 5.000.000 đồng để đóng học cho con của chị T. Th trả tiền khách sạn, chi phí ăn uống hết khoảng 4.500.000 đồng. Ngày 29/4/2022, Th sợ bị Cơ quan Công an phát hiện nên đã xé các biên bản ghi lời khai ông Ng, anh S và anh Ch. Do đưa tiền cho Th nhưng không thấy Th giải quyết công việc đồng thời chị T về nhà Th chơi thì được biết Th không phải là Công an nên chị T nghi ngờ Th lừa đảo. Để lấy lại tiền, ngày 29/4/2022, chị T lấy cớ hỏi vay tiền Th để đặt cọc tiền nhà làm quán, chuyển cho người thân, đóng tiền Wife và đã được Th chuyển số tiền 23.711.000 đồng. Ngày 30/4/2022, chị T được người quen cho biết thấy thông tin truy nã Th trên trang thông tin điện tử Bộ Công an và đã bị Toà án nhân dân thành phố Hạ Long xét xử ngày 12/7/2019 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Biết chắc chắn bị lừa tiền nên ngày 01/5/2022, chị T đến Công an thành phố Móng Cái trình báo và nộp lại số tiền của ông Ng mà Th đã chuyển cho T tổng là 36.711.000 đồng. Sau khi biết hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền bị bại lộ, ngày 01/5/2022 Th đến Công an thành phố Móng Cái đầu thú. Cơ quan điều tra đã tạm giữ của Th 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart joy 3, 01 căn cước công dân mang tên Mai Viết Th và số tiền 7.600.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã trả số tiền 44.311.000 đồng cho bị hại ông Nguyễn Bá Ng, còn số tiền 15.689.000 đồng bị cáo đã tác động và gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền trên cho ông Ng.

Quá trình điều tra, bị cáo Mai Viết Th khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số: 79/CT-VKS-MC, ngày 03 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh truy tố Mai Viết Th về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Mai Viết Th đã khai nhận thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản như đã nêu trên.

* Phần tranh luận: Đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Mai Viết Th từ 36 (ba mươi sáu) đến 42 (bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ: ngày 01/5/2022.

- Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Trả lại cho bị cáo 01 (một) căn cước công dân số: 022083005717 mang tên Mai Viết Th.

+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước của Mai Viết Th 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy 3.

Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

* Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

s

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Móng Cái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Nhận định của Hội đồng xét xử về những chứng cứ xác định bị cáo có tội, về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản tiếp nhận người phạm tội đầu thú, biên bản kiểm tra điện thoại, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, vật chứng thu giữ, bản kết luận giám định, cùng toàn bộ tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án, hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: ngày 27/4/2022, tại khu 2, phường Hòa Lạc, thành phố Móng Cái, Mai Viết Th đã dùng thủ đoạn gian dối và chiếm đoạt số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) của ông Nguyễn Bá Ng. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Mai Viết Th đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo Mai Viết Th về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

…

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02

năm đến 07 năm:

…

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”.

Đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, do không có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ông Nguyễn Bá Ng. Nên việc đưa bị cáo ra xét xử công khai, xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời tuyên truyền phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tuy nhiên, về nhân thân: ngày 12/7/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 4 tháng 23 ngày tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do đó, cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo ra đầu thú, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình khắc phục hậu quả cho bị hại, ngoài ra bị cáo ra đầu thú và được bị hại ông Nguyễn Bá Ng có đơn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: tại khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét bị cáo không có việc làm và thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về phần dân sự: bị hại ông Nguyễn Bá Ng đã nhận đủ số tiền bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng gồm:

- 01 (một) căn cước công dân số: 022083005xxx mang tên Mai Viết Th, là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy 3, màu đen, mặt sau có dán chữ nước ngoài, số IMEI: 351726118443188, điện thoại cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong, thu giữ của bị cáo sử dụng dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Về lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát: Xét những chứng cứ mà Kiểm sát viên dùng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được cơ quan điều tra thu thập theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng Hình sự quy định; Tại phiên tòa bị cáo cũng đã thừa nhận thực hiện hành vi như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nên lời buộc tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo: Mai Viết Th (tên gọi khác: không)

Phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 174, Điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Mai Viết Th 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ: ngày 01/5/2022.

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Trả lại cho Mai Viết Th 01 (một) căn cước công dân số: 022083005717 mang tên Mai Viết Th.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy 3, màu đen, mặt sau có dán chữ nước ngoài, số IMEI: 351726118443188. Điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy bên trong, thu giữ của bị cáo sử dụng dùng vào việc phạm tội.

(Vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số: 94/2022/THA ngày 04/8/2022, tại Chi cục Thi hành án Dân sự, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh).

3. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Mai Viết Th phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; vắng mặt bị hại. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ