vanban.org

Bản án 78/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 20/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thị Vân A và đồng phạm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
`TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_______
Bản án số: 78/2022/HS-ST
Ngày: 20 - 07 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thịnh;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Nhật Chiến;

Bà Phạm Thị Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Hữu Hà- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Khanh- Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 07 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2022/HSST ngày 18 tháng 05 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2022/QĐXXST-QĐ ngày 09 tháng 06 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2022/HSST-QĐ ngày 21/06/2022, Quyết định thay đổi thư ký phiên tòa số 33/2022/QĐ-CA ngày 18/07/2022 đối với các bị cáo:

1. Vũ Thị Vân A; sinh ngày: 17 tháng 7 năm 1990 tại tỉnh Thái Bình. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Chỗ ở: số X/Y đường B, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh, tôn giáo: không; trình độ học vấn: Lớp 9/12; con ông Vũ Văn Q và bà Vũ Thị T, chồng: không có; con: có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh tháng 4/2021; tiền án, tiền sự: không, nhân thân không bị xử phạt hành chính, không bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị tạm giữ, từ ngày 23/12/2021 đến ngày 24/12/2021 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt.

2. Hoàng Chí C; sinh ngày: 26 tháng 10 năm 1985, tại Hải Phòng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số P/Q đường H, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không. Nghề nghiệp: không. Trình độ học vấn: Lớp 7/12; con ông Hoàng Chí K và bà Lý Thị H, vợ, con: không có. Tiền án: 02 tiền án Bản án số 09/2008/HSST ngày 04/01/2008, Tòa án nhân quận L, thành phố Hải Phòng xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/9/2008, chấp hành xong án phí HSST ngày 24/10/2014 (chưa được xóa án tích); bản án số 58/2013/HSST ngày 30/8/2013, Tòa án nhân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt 09 năm về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/10/2020 (chưa được xóa án tích). Tiền sự: không; Nhân thân: Bản án số 167/HSST ngày 14/6/2001, Tòa án nhân thành phố Hải Phòng xử phạt 54 tháng tù về tội Cướp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/12/2004 (đã được xóa án tích). Ngày 27/6/2005 trộm cắp pha xe ô tô; ngày 09/7/2006 trộm cắp quần áo tại chợ An Dương, Công an phường Trần Nguyên Hãn bắt sau giao Công an phường A lập hồ sơ “09”; ngày 09/10/2006 đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm “06”; ngày 02/11/2007 bị Công an phường Minh Khai, quận Hồng Bàng – Hải Phòng bắt và xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 14/10/2010 Ủy ban nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng áp dụng biện pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục lao động xã hội số 2 thuộc huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng trong thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 28/10/2012. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2021, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lạng Sơn, có mặt.

3. Hứa Văn H1; Sinh ngày: 28 tháng 3 năm 1985, tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu K KT, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: không, trình độ học vấn: Lớp 9/12; con ông: Hứa Văn Đ và bà Lương Thị T; vợ: Nông Thị B; sinh năm 1990; con: có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 07/11/2005 Công an huyện L, tỉnh Lạng Sơn quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi Cố ý gây thương tích. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2021 đến nay tại nhà Tạm giữ Công an thành phố L, có mặt.

4. Người chứng kiến:

4.1 Ông Hoàng Đức T, vắng mặt

4.2 Ông Tô Ngọc M, vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Thị Vân A là đối tượng đã nhiều lần sử dụng ma túy, do không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, để có tiền chi tiêu và sinh hoạt cá nhân, Vũ Thị Vân A nảy sinh ý định mua ma túy với một người phụ nữ tên thường gọi là H2 (sống cùng khu trọ) để bán lại kiếm lời. Kết quả điều tra xác định trong các ngày 22 và 23/12/2021, Vũ Thị Vân A đã hai lần bán ma túy như sau:

Lần 1: Khoảng 14 giờ ngày 22/12/2021, Vũ Thị Vân A nhận được tin nhắn từ số điện thoại 0389.508.267 của Hứa Văn H1 đến số điện thoại 0987.022.650 của Vân A hỏi mua “5 phân” ma túy heroine, Vũ Thị Vân A thỏa thuận với Hứa Văn H1 giá mua bán là 2.500.000 đồng. Sau đó Hứa Văn H1 đến trước cửa phòng trọ đưa tiền qua bên dưới khe cửa cho Vũ Thị Vân A rồi đi ra ngoài đợi, Vũ Thị Vân A cầm tiền đi sang phòng trọ của H2 mua “5 phân” ma túy Heroine với giá 2.300.000 đồng mang về phòng trọ gói vào một gói giấy kẻ ô ly màu trắng rồi đưa qua bên dưới khe cửa cho Hứa Văn H1. Hứa Văn H1 cất giấu gói ma túy trên vào trong túi quần phía trước bên trái, đi tìm nơi sử dụng, đến khu vực trước cửa nhà số 496 đường B, phường Đ, thành phố L thì bị tổ công tác Công an phường Đ phát hiện, bắt quả tang lúc 15 giờ 20 phút, thu giữ 01 gói giấy ô ly màu trắng (kích thước 3,5cm x 02cm) bên trong chứa chất bột màu trắng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO x 27, màu xanh, số Imeil 1: 864067048313211, số Imeil 2: 864067048313203, lắp sim số 0389.508.267.

Tại Kết luận giám định số 30/KL-PC09 ngày 23/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: chất bột màu trắng thu giữ của Hứa Văn H1 gửi giám định là ma túy Heroine, có khối lượng 1,359 gam (đã trừ bì).

Lần 2: Khoảng 09 giờ 30 phút sáng ngày 23/12/2021, Hoàng Chí C đến cửa phòng trọ của Vũ Thị Vân A hỏi mua 100.000 đồng ma túy heroine, Vũ Thị Vân A tiếp tục lấy số ma túy còn lại chia ra một phần gói vào mảnh giấy kẻ ô ly màu trắng đưa qua bên dưới khe cửa cho Hoàng Chí C, Hoàng Chí C cất giấu ma túy vào mặt trong khẩu trang đang đeo và đi tìm nơi sử dụng, đến khu vực trước cửa nhà số 592 đường B, phường Đ, thành phố L thì bị tổ công tác Công an phường Đ phát hiện, bắt quả tang lúc 10 giờ 20 phút, thu giữ 01 gói giấy kẻ ô ly màu trắng (kích thước 02cm x 01cm) bên trong chứa chất bột màu trắng.

Cơ quan điều tra tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Vũ Thị Vân A, thu giữ 01 gói giấy ô ly màu trắng (kích thước 03cm x 01cm) bên trong có chứa chất bột màu trắng là số ma túy còn lại đã mua với H2 vào sáng ngày 23/12/2021 bản thân tàng trữ mục đích để bán kiếm lời và tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Thị Vân A tại phòng trọ số 03, nhà số 7/560 đường B, phường Đ, thành phố L, thu giữ trong túi bên trái áo khoác màu bạc để trong tủ bạt sát nhà vệ sinh 01 túi nilon (kích thước 08cm x 4,5cm) bên trong chứa 01 viên nén màu xanh.

Tại Kết luận giám định số 33/KL-PC09 ngày 24/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng trong gói giấy thu giữ của Hoàng Chí C là chất ma túy Heroine, có khối lượng 0,199 gam (đã trừ bì); chất bột mầu trắng trong gói giấy thu giữ của Vũ Thị Vân A là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,253 gam (đã trừ bì); 01 viên nén màu xanh thu giữ của Vũ Thị Vân A có khối lượng 0,412 gam (đã trừ bì), không tìm thấy chất ma túy trong mẫu vật.

Ngày 18/02/2022, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định nhập vụ án hình sự số 02 về việc nhập vụ án Tàng trữ trái phép chất ma túy với vụ án Mua bán, Tàng trữ trái phép chất ma túy để tiến hành điều tra theo quy định.

Quá trình điều tra, Vũ Thị Vân A, Hoàng Chí C, Hứa Văn H1 đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại Bản Cáo trạng số: 59/CT-VKSTP ngày 17-05-2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hứa Văn H1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Vũ Thị Vân A về tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Hoàng Chí C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo Vũ Thị Vân A, Hứa Văn H1, Hoàng Chí C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Thị Vân A phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, tuyên bố bị cáo Hứa Văn H1 và Hoàng Chí C phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hứa Văn H1 từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Chí C từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Thị Vân A từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù;

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo vì các bị cáo không có thu nhập, không có tài sản riêng.

Truy thu đối với bị cáo Vũ Thị Vân A số tiền do phạm tội mà có là 2.600.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 04 phong bì niêm phong bên trong đựng mẫu vật là chất ma túy sau giám định;

Tịch thu hóa giá 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO x 27, màu xanh, lắp sim số 0389.508.267 thu giữ của Hứa Văn H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu xanh, số Imeil: 355123115493562, lắp sim số 0987.022.650 thu giữ của Vũ Thị Vân A; Trả lại bị cáo Vũ Thị Vân A 01 điện thoại Master lắp sim thuê bao số 0972401350

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đều đã nhận thấy lỗi lầm của bản thân, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với Kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ xác định: Để có tiền sử dụng ma túy cho bản thân, trong các ngày 22 và 23/12/2021, tại phòng trọ của mình Vũ Thị Vân A đã 2 lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy herôin, cụ thể 01 lần bán cho Hứa Văn H1 1,359 gam với giá 2.500.000 đồng, 01 lần bán cho Hoàng Chí C 0,199 gam với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được số ma túy trên Hứa Văn H1 và Hoàng Chí C đang đi tìm nơi sử dụng trái phép chất ma túy thì bị công an phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy trên. Quá trình bắt giữ bị cáo Vũ Thị Vân A đã thu giữ được 0.253 gam ma túy Heroin. Như vậy bị cáo Vũ Thị Vân A đã 2 lần bán ma túy và tổng số ma túy Vũ Thị Vân A đã bán và có mục đích bán là 1,811 gam hê rô in.

Khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị cáo Hứa Văn H1 và Hoàng Chí C có đầy đủ năng lực hành vi, khi thực hiện hành vi mua bán mua túy trái phép chất ma túy bị cáo Vũ Thị Vân A có đầy đủ năng lực hành vi nên việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, có đủ cơ sở kết tội bị cáo Hứa Văn H1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; do bị cáo Hoàng Chí C tái phạm chưa được xóa án tích lại phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm. Do đó có đủ căn cứ kết tội bị cáo Hoàng Chí C về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự; đủ căn cứ kết tội bị cáo Vũ Thị Vân A về tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo Hứa Văn H1 gây ra là nguy hiểm cho xã hội; Hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Thị Vân A và bị cáo Hoàng Chí C là rất nguy hiểm cho xã hội. Hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy cũng như tệ nạn ma túy nói chung là nguyên nhân làm phát sinh các loại tệ nạn xã hội khác. Hiện nay, việc đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy đang là nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội. Chính vì vậy, mọi hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy đều phải bị xử lý nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật. Để có mức hình phạt đối với từng bị cáo, cần xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của từng bị cáo.

Bị cáo Hứa Văn H1: Về nhân thân Ngày 07/11/2005 Công an huyện L, tỉnh Lạng Sơn quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi Cố ý gây thương tích, đã được coi như chưa có tiền sự, tuy nhiên hiện nay bị cáo đang sử dụng chất ma túy. Do đó bị cáo có nhân thân không tốt; Tiền án, tiền sự: Không có; Về tình tiết tăng nặng: Không có; tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Hoàng Chí C, về nhân thân bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử phạt hành chính, bị xét xử tại tòa án cụ thể: Bản án số 167/HSST ngày 14/6/2001, Tòa án nhân thành phố Hải Phòng xử phạt 54 tháng tù về tội Cướp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/12/2004 (đã được xóa án tích); Ngày 27/6/2005 trộm cắp pha xe ô tô; ngày 09/7/2006 trộm cắp quần áo tại chợ An Dương, Công an phường Trần Nguyên Hãn bắt sau giao Công an phường A lập hồ sơ “09”; Ngày 09/10/2006 đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm “06”; ngày 02/11/2007 bị Công an phường Minh Khai, quận Hồng Bàng – Hải Phòng bắt và xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản; Ngày 14/10/2010 Ủy ban nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng áp dụng BPXLHC cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục lao động xã hội số 2 thuộc huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng trong thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong ngày 28/10/2012, đã được coi như chưa có tiền sự, hiện nay bị cáo đang sử dụng chất ma túy. Tiền án: Bản án số 09/2008/HSST ngày 04/01/2008, Tòa án nhân quận L, thành phố Hải Phòng xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/9/2008, chấp hành xong án phí HSST ngày 24/10/2014 (chưa được xóa án tích); Bản án số 58/2013/HSST ngày 30/8/2013, Tòa án nhân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt 09 năm về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/10/2020 (chưa được xóa án tích); tiền sự: Không có; Về tình tiết tăng nặng: Không có; tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Vũ Thị Vân A: Tiền án, tiền sự: không, nhân thân không bị xử phạt hành chính, không bị xử lý kỷ luật, tuy nhiên hiện nay bị cáo sử dụng chất ma túy nên bị cáo có nhân thân không tốt. Tình tiết tăng nặng: không có, tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là mẹ đơn thân đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ, mua bán trái phép ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo Hoàng Chí C, Hứa Văn H1 vẫn cố ý thực hiện nhằm phục vụ lợi ích bất hợp pháp của bản thân; bị cáo Vũ Thị Vân A vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích kiếm lời. Vì vậy, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có thể giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thể hiện: Các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản, sử dụng chất ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Hứa Văn H1, Vũ Thị Vân A, Hoàng Chí C (biên bản xác minh các ngày 14-02-2022 và ngày 24-02-2022);

Đối với số tiền 2.600.000 đồng là tiền mà Vũ Thị Vân A bán ma túy cho Hứa Văn H1 và Hoàng Chí C, đây là tiền do phạm tội mà có, nên cần truy thu đối với Vũ Thị Vân A để sung vào ngân sách Nhà nước.

Vũ Thị Vân A khai nhận bản thân mua ma túy với người phụ nữ tên là H2 ở cùng xóm trọ với Vũ Thị Vân A xác định là bà Trần Thị H3 (sinh năm 1969, ĐKHKTT: khu phố T, Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa). Tại Cơ quan điều tra, bà H3 khẳng định bản thân không sử dụng chất ma túy và không thừa nhận được bán ma túy cho Vũ Thị Vân A. Do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với bà Trần Thị H3. Ngoài lời khai của Vũ Thị Vân A, không có tài liệu khác xác định Trần Thị H3 là người bán trái phép chất ma túy cho Vũ Thị Vân A. Do đó không có căn cứ để xử lý trong vụ án này, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Vũ Thị Vân A khai sáng ngày 23/12/2021 được bán ma túy cho người đàn ông 1 gói ma túy giá 200.000 đồng ma túy Heroine, do Vũ Thị Vân A không biết nhân thân, lai lịch của người đàn ông này nên không xác minh làm rõ được để xử lý trong vụ án này. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 viên nén màu xanh Cơ quan điều tra đã thu giữ khi khám xét, Vũ Thị Vân A khai nhận được một người bạn ngoài xã hội (không rõ lai lịch) cho, Vũ Thị Vân A cất giấu đã lâu rồi. Theo Kết quả giám định thì viên nén màu xanh trên không có thành phần chất ma túy nên không có căn cứ xem xét xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng: Đối với 01 bì niêm phong đựng mẫu vật sau giám định bên trong có 1,196 gam Heroin và vỏ bao gói cũ thu giữ của bị cáo Hứa Văn H1; 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật sau giám định bên đựng 0,177 gam Heroin và 01 vỏ bao gõi cũ thu giữ của bị cáo Hoàng Chí C; 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật sau giám định bên trong có 01 gói giấy đựng 0,230 gam Hê rô in và 01 gói giấy kẻ ô cũ; 01 phong bì đựng mẫu vật bên trong 01 gói giấy đựng 0,354 gam chất bột màu xanh và 01 vỏ túi nilon thu giữ của bị cáo Vũ Thị Vân A là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành, vật liên quan đến hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, số Imei 355314105757104, lắp sim số thuê bao 0972401350 thu giữ của bị cáo Vũ Thị Vân A Hội đồng xét xử thấy không liên quan đến hành vi phạm nên trả lại cho bị cáo Vũ Thị Vân A.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO x 27, màu xanh, lắp sim số 0389.508.267 thu giữ của Hứa Văn H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu xanh, số Imei:355123115493562, lắp sim số 0987.022.650 thu giữ của Vũ Thị Vân A đây là vật liện quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Do bị kết án nên các bị cáo Hứa Văn H1, Vũ Thị Vân A, Hoàng Chí C, mỗi người phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội đã xảy ra, đúng với các quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hứa Văn H1;

Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Chí C;

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Thị Vân A;

Căn cứ điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Vũ Thị Vân A phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy

Tuyên bố bị cáo Hứa Văn H1 và bị cáo Hoàng Chí C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Vũ Thị Vân A 07 (bẩy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian bị tạm giữ là 01 ngày.

Xử phạt bị cáo Hứa Văn H1 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 25-12-2021.

Xử phạt bị cáo Hoàng Chí C 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 26-12-2021.

3. Truy thu đối với bị cáo Vũ Thị Vân A số tiền 2.600.000 ( hai triệu sáu trăm nghìn) đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.

4. Về xử lý vật chứng:

4.1 Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì niêm phong đựng mẫu vật sau giám định bên trong có 1,196 gam Heroin và vỏ bao gói cũ thu giữ của bị cáo Hứa Văn H1; 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật sau giám định bên đựng 0,177 gam Heroin và 01 vỏ bao gõi cũ thu giữ của bị cáo Hoàng Chí C; 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật sau giám định bên trong có 01 gói giấy đựng 0,230 gam Hê rô in và 01 gói giấy kẻ ô cũ; 01 phong bì đựng mẫu vật bên trong 01 gói giấy đựng 0,354 gam chất bột màu xanh và 01 vỏ túi nilon thu giữ của bị cáo Vũ Thị Vân A

4.2 Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO x 27, màu xanh, lắp sim số 0389.508.267 thu giữ của Hứa Văn H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu xanh, số Imei: 355123115493562, lắp sim số 0987.022.650 thu giữ của Vũ Thị Vân A .

4.3 Trả lại bị cáo Vũ Thị Vân A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, số Imei 355314105757104, lắp sim số thuê bao 0972401350 thu giữ của bị cáo Vũ Thị Vân A

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành ándân sự thành phốL, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứngngày 09 tháng 05 năm 2022).

5. Về án phí: Các bị cáo Hứa Văn H1, Hoàng Chí C, Vũ Thị Vân A, mỗi người phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Lạng Sơn;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Sở tư pháp tỉnh Lạng Sơn;

- VKSND tỉnh Lạng Sơn;

- VKSNDTP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;

- Công an TP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;

- CQTHAHSCATP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;

- CCTHADSTP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;

- Nhà tạm giữ CATP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;

- Bị cáo; Người LQ;………………………….;

- Lưu: VT, Tổ HCTP, Hồ sơ vụ án.

Nguyễn Kim Thịnh

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Kim Thịnh

Việc nghị án kết thúc vào hồi……. giờ…… phút cùng ngày …./…./2022

Biên bản nghị án đã được đọc cho các thành phần nghe và cùng kí tên

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Kim Thịnh

Việc thảo luận kết thúc vào hồi……. giờ…… phút cùng ngày …./…./2022

Biên bản thảo luận đã được đọc cho các thành phần nghe và cùng kí tên THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Kim Thịnh THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Kim Thịnh

Việc nghị án kết thúc vào hồi……. giờ…… phút cùng ngày …./…./2022

Biên bản nghị án đã được đọc cho các thành phần nghe và cùng kí tên

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Kim Thịnh

Cỡ chữ