vanban.org

Bản án 78/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 27/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Đình N phạm tội “Giết người”;

Xử phạt: Bị cáo Trần Đình N 09 (Chín) năm tù, thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 01-6-2022; Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08-7-2006 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đình N - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Đình N phạm tội “Giết người”;
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 590 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH N ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2022/HS-ST
Ngày: 27-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH N ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết

Thẩm phán:

Ông Nguyễn Đức Cảnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Thọ

Ông Nguyễn Văn Thành

Bà Nguyễn Thị Anh Quế

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Trâm - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh N Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh N Định tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn N - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh N Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2022/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:

Trần Đình N; sinh năm 2001; nơi sinh, ĐKHKTT và cư trú: 342 T, phường M, thành phố N, tỉnh N Định; giới tính: N; trình độ văn hóa: 9/12; giới tính: N; Quốc tịch: Việt N; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề ngH: Tự do; con ông Trần Đình H, trú tại: 342 Tô Hiến Thành, phường Mỹ Xá, thành phố N Định; con bà Nguyễn Thị Ng, trú tại: 5/22/19/140 Tr1, phường Tr, thành phố N , tỉnh N ; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo ra đầu thú, tạm giam từ ngày 01-6-2022 tại Trại tạm giam Công an tỉnh N Định (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự: Luật sư Phan Thị Tuyết Nhung - Luật sư của Văn phòng luật sư Trung Tâm - Thuộc đoàn Luật sư tỉnh N Định (Có mặt).

- Bị hại: Anh Nhâm Quang Đ; sinh năm 1996; cư trú tại: Ngõ 86, Hoàng Văn Thụ, phường Phan Đình Phùng, thành phố N Định (Có mặt).

- Người làm chứng: Anh Trịnh Văn C (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có mối quan hệ quen biết, đầu tháng 4-2022 Trần Đình N vay của anh Nhâm Quang Đ số tiền 18.000.000 đồng. Ngày 13-5-2022, anhĐyêu cầu trả số tiền trên thì N hẹn đến ngày 14-5-2022 sẽ trả, đến ngày 14-5-2022 N tiếp tục hẹn anhĐđến ngày 16-5-2022 sẽ trả tiền.

Khoảng 19 giờ ngày 16-5-2022, anh Đ gọi điện thoại hỏi đã có tiền trả chưa, thì N trả lời “vẫn chưa có tiền để trả”, anh Đ yêu cầu nói chuyện trực tiếp thì N đồng ý và hẹn gặp nói chuyện ở cổng trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật trên đường Tr 1, thành phố N . Khoảng 20 giờ cùng ngày, anhĐđi xe máy điện cùng với bạn là Trịnh Văn C, sinh năm 1999, trú tại 49B2, ô 19, phường Hạ Long, thành phố N Định đến điểm hẹn. AnhĐgọi điện N bảo là đang trong ngõ 53 đường Tr 1. Anh C chở anhĐđi vào trong ngõ, khi đi đến trước cửa số nhà 51/53 Tr 1 thì gặp N. Anh Đ xuống xe một mình đi đến nói chuyện với N, anh C vẫn ngồi trên xe máy điện cách chỗ anh Đvà N nói chuyện khoảng 1m. Anh Đ hỏi “Tiền mày nợ tao giờ mày tính thế nào”. N trả lời “Thật sự giờ em không có tiền chứ không phải em trốn tránh gì”. Anh Đ nói “Ơ thế mày lừa tao à” đồng thời dùng tay trái tát vào vùng má của N một cái. Bị đánh N rút từ trong túi quần ra một con dao, dạng dao gấp, lưỡi dao dài khoảng 06cm bằng kim loại sáng màu, mũi dao nhọn, lưỡi dao một cạnh sắc, chuôi dao bằng kim loại dài khoảng 09cm mang theo từ trước, vung mở lưỡi dao ra thì anh Đ lùi lại cách N khoảng 01 mét. Anh C ngồi trên xe nhìn thấy nói “Mày ngáo à, nợ tiền người ta mà lại định đâm người ta à”. Cùng lúc này anh Đ nhận được điện thoại của người bạn là Chính “Tám” gọi video qua ứng dụng Messenger, anh Đ nói chuyện với Chính về việc N vay tiền mình nhưng không trả còn cầm dao định đâm mình. Khi anh Đ đang giơ điện thoại lên để quay mặt N, thì bất ngờ bị N cầm dao trên tay phải đâm một nhát trúng vào mạn sườn trái của anh Đ thấu vào ổ bụng. Sau khi bị đâm, anh Đ dùng tay phải gạt tay đang cầm dao của N ra thì bị dao cứa vào làm xước da ở mu bàn tay. Sau khi đâm xong N cầm dao bỏ chạy vào trong ngõ 53 Tr 1 rồi bỏ trốn lên Hà Nội, quá trình bỏ trốn N đã vứt con dao trên đường đi, không xác định được khu vực nào. Anh Đ bị thương được anh C và mọi người đưa vào Bệnh viện Đa khoa tỉnh N Định cấp cứu và điều trị. Ngày 17-5-2022, gia đình anh Đ đến Công an phường Năng Tĩnh trình báo sự việc.

Anh Nhâm Quang Đ bị vết thương sắc gọn vùng mạn sườn trái có kích thước (3x1)cm, vết thấu ổ bụng, cắt đứt động mạch mạc treo đại tràng trái, rách hỗng tràng hai vị trí trên bờ tự do, cách góc Treitz tương ứng 10cm, rách 1/3 khẩu kính ruột và 20 cm rách 1/2 khẩu kính ruột. Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an thành phố N Định đã trưng cầu giám định tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với anh Nhâm Quang Đ. Tại bản Kết luận giám định số 148/22/TgT ngày 06-6-2022 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Hà N kết luận tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với anh Nhâm Quang Đ là 45%. Cơ chế hình thành vết thương: Vết thương mạn sườn trái thấu bụng làm đứt động mạch mạc treo đại tràng trái, rách hỗng tràng do vật sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên.

Ngày 01-6-2022, Trần Đình N đã đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố N Định đầu thú thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Cơ quan điều tra tiến hành thực nghiệm điều tra cho N tự thực hiện lại toàn bộ diễn biến hành vi của mình, kết quả N đã thực hiện hành vi đúng như nội dung nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nhâm Quang Đ yêu cầu Trần Đình N phải bồi thường toàn bộ thiệt hại đã gây ra bao gồm chi phí cứu chữa tại bệnh viện, tiền thuê điều dưỡng, tiền điều trị tại nhà, tiền bồi dưỡng sức khỏe và tiền bồi thường việc mất khả năng lao động với tổng số tiền 300.000.000 đồng. Hiện tại N chưa bồi thường cho anh Đ.

Bản cáo trạng số 65/CT-VKSND-P2 ngày 26-8-2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh N Định truy tố: Trần Đình N về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS).

Tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác nhận Cáo trạng đã mô tả đúng diễn biến sự việc xảy ra, việc truy tố là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh N Định luận tội: Giữ nguyên nội dung Cáo trạng và quyết định đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo từ 09 năm đến 10 năm tù về tội “Giết người”; đề nghị căn cứ Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015, buộc bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị hại chi phí cứu chữa 17.000.000đồng; tiền thu nhập bị mất của bị hại từ 18 triệu đến 20 triệu; tiền thu nhập bị mất của người chăm sóc bị hại từ 02 triệu đến 03 triệu đồng; tiền bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại từ 30 tháng đến 35 tháng lương cơ bản.

Người bào chữa cho bị cáo N trình bày quan điểm: Nhất trí tội danh cũng như khung khoản điều luật áp dụng đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện ra đầu thú, nguyên nhân phạm tội một phần do lỗi của bị hại. đề nghị áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS để ấn định mức án thấp theo đề nghị của Kiểm sát viên.

Người bị hại trình bày: Đề nghị xem xét xử lý trách nhiệm hình sự của bị cáo theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự, anh không có chứng cứ để chứng minh về thu nhập bị mất, đối với chứng cứ về việc cứu chữa, ngoài những tài liệu anh đã cung cấp thì không còn tài liệu nào khác, các hoá đơn bán lẻ anh không xuất trình được chỉ định của Bác sỹ kèm theo vì không lưu giữ được, nay anh yêu cầu bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại đã gây ra cho anh và bồi thường tổn thất tinh thần cho anh theo quy định của pháp luật, về quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà anh không có ý kiến tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh N Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 16-5-2022, tại trước cửa số nhà 51/53 đường Tr 1, phường Năng Tĩnh, thành phố N Định, anh Nhâm Quang Đ gặp Trần Đình N để nói chuyện về khoản nợ 18.000.000 đồng, N đã 02 lần lỡ hẹn không trả, khi N nói hiện vẫn chưa có tiền để trả thì anh Đ đã tát N vào má, bức xúc việc bị anh Đ tát, nên khi anh Đ đang nghe điện thoại của bạn qua mạng xã hội Messenger và định quay hình ảnh N thì N đã dùng con dao dạng dao gấp, lưỡi dao dài khoảng 06cm bằng kim loại sáng màu, mũi dao nhọn, lưỡi dao một cạnh sắc, chuôi dao bằng kim loại dài khoảng 09cm, mang theo từ trước cầm trên tay phải đâm một nhát trúng vào mạn sườn trái của anh Đ, vết đâm có kích thước (3x1) cm “thấu vào ổ bụng, cắt đứt động mạch mạc treo đại tràng trái, rách hỗng tràng 02 vị trí trên bờ tự do, cách góc Treitz tương ứng 10cm, rách 1/3 khẩu kính ruột và 20 cm rách 1/2 khẩu kính ruột”, gây ra tỉ lệ tổn thương cơ thể theo kết quả giám định là 45%. Hành vi đó của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” với tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS, tương tự tình huống trong Án lệ số 47/2021/AL được Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thông qua ngày 25-11-2021, nên quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh N Định là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cao cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của bị hại là khách thể đặc biệt được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức được sự nguy hiểm của việc sử dụng hung khí tấn công vào vùng bụng là điểm trọng yếu trên cơ thể con người, là vị trí nếu bị tấn công bằng hung khí nguy hiểm có nhiều khả năng xâm hại đến tính mạng nạn nhân, nhưng vẫn làm chỉ vì lý do nhỏ nhặt, hậu quả bị hại không chết là nằm ngoài ý thức chủ quan của bị cáo, nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội “Có tính chất côn đồ”, với lỗi cố ý trực tiếp. Do vậy, mặc dù bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 BLHS, nhưng cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương đối dài, mới đủ khả năng trừng trị, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa loại tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khoẻ đang có chiều hướng gia tăng trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét: Quá trình điều tra, truy tố xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo bỏ trốn, nhưng đã tự nguyện ra đầu thú, bị hại đã tát bị cáo trước ít nhiều cũng có một phần lỗi, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Đồng thời, hành vi tấn công của bị cáo chưa gây ra hậu quả làm chết người, thuộc trường hợp phạm tội chưa Đ, căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 57 BLHS thì mức hình phạt tuyên cho bị cáo không quá 3/4 mức phạt tù mà Điều luật đã quy định. Do vậy, cần chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho bị cáo, tuyên cho bị cáo mức án thấp theo đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh N Định tại phiên toà.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nhâm Quang Đ yêu cầu bị cáo phải bồi thường những thiệt hại đã gây ra với số tiền 193.300.000đồng bao gồm: Chi phí cứu chữa tại bệnh viện 25.000.000đồng; tiền thuê điều dưỡng và tiền điều trị tại nhà 60.000.000 đồng, tiền sữa 15.300.000đồng; tiền bồi dưỡng ăn uống 18.000.000đồng; tiền bồi thường mất khả năng lao động 75.000.000đồng. Ngoài ra bị hại yêu cầu bị cáo có trách nhiệm bồi thường một khoản tiền tổn thất tinh thần theo quy định của pháp luật, tổng cộng các khoản là 300.000.000đồng. Căn cứ quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử thấy chỉ có căn cứ chấp nhận các khoản sau: Số tiền chi phí cứu chữa tại bệnh viện có tài liệu chứng cứ hợp pháp chứng minh là 16.839.051 đồng, theo phiếu thu tiền kiêm bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh (BL 54) số tiền 15.393.051 đồng, chi phí chụp cắt lớp vi tính tầng trên ổ bụng thường quy (BL 56) số tiền 1.446.000đồng; tiền bồi dưỡng sức khoẻ 60 ngày, mỗi ngày 300.000đồng là 12.000.000đồng; tiền thu nhập bị mất của bị hại trong thời gian 2,5 tháng (75 ngày), theo mức thu nhập bình quân ở địa phương 200.000/ngày là 15.000.000đồng và tiền thu nhập bị mất của người chăm sóc bị hại trong thời gian 20 ngày (trong đó 10 ngày bị hại nằm viện và sau khi ra viện 10 ngày do sức khoẻ bị hại chưa thực sự ổn định) là 5.000.000 đồng. Đồng thời, căn cứ khoản 3 Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015, buộc bị cáo bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại với mức 30 tháng lương cơ sở với số tiền 44.700.000đồng (vì xác định thương tích của bị hại 45% là ở mức trung bình và sự việc xảy ra bị hại cũng có một phần lỗi). Như vậy, tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho bị hại là 93.539.051đồng. Đối với 07 hoá đơn bán lẻ với tổng số tiền 8.348.000 đồng do bị hại cung cấp không được chấp nhận vì không hợp lệ và không có chỉ định của Bác sỹ kèm theo.

Vật chứng: Con dao là công cụ phạm tội, bị cáo đã vứt trên đường bỏ trốn, hiện không thu giữ được.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 57 của BLHS và Án lệ số 47/2021/AL được Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thông qua ngày 25-11-2021 và được công bố theo Quyết định số 594/QĐ-CA ngày 31-12-2021 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao,

Tuyên bố: Bị cáo Trần Đình N phạm tội “Giết người”;

Xử phạt: Bị cáo Trần Đình N 09 (Chín) năm tù, thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 01-6-2022;

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08-7-2006 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao,

Buộc bị cáo Trần Đình N có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bị hại Nhâm Quang Đ tổng số tiền là 93.539.051đồng (Chín mươi ba triệu năm trăm ba mươi chín ngàn không trăm năm mươi mốt đồng);

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với các khoản tiền người phải thi hành án phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và các điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án,

Buộc bị cáo Trần Đình N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 4.676.900đồng (Bốn triệu sáu trăm bảy mươi sáu ngàn chín trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ