- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc N phạm tội Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc N phạm tội “Giết người”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2022/HS-ST Ngày: 08-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁNNHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Khắc Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Đăng Ninh
Bà Nguyễn Thị P Nga.
-Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hạnh - Thư ký TAND tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Hương Sen - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2022/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Ngọc N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 06 tháng 10 năm 1968; Nguyên quán: xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi ĐKNKTT: Thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên bố: Nguyễn Q (Đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Q1 (Đã chết); Anh chị em ruột: 07 người, bị can là con thứ 5; Họ và tên vợ: Trần Thị K (Đã chết); Con: có 02 đứa, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2001. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/5/2022 và bị khởi tố bị can chuyển tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho b cáo: Ông Nguyễn Xuân H; Sinh năm 1994; Luật sư thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).
* Người b h i: Nguyễn Tiến S, sinh năm 1985; Nơi đăng ký HKTT: Xã T, C, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở: Thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (Đã chết).
* Người đ i diện hợp pháp của người b h i: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1962; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (Mẹ người bị hại - Có mặt).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1996; Nghề ngiệp: Làm ruộng; Địa chỉ: Thôn Lâm Trung, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).
- Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 2001; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Thị trấn Vĩnh H, huyện Vĩnh H, tỉnh Long An (Vắng mặt).
Do chị Nguyễn Thị Ngọc nh đại diện theo ủy quyền.
* Người làm chứng:
- Chị Đặng Thị Th sinh năm 1958; Nghề nghiệp: làm ruộng; Địa chỉ: Thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
- Ông Phạm Khắc N, sinh năm 1970; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Địa chỉ: Thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
- Anh Phạm Đình N, sinh năm 1978; Nghề nghiêp: Lao động tự do; Địa chỉ: Thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
- Anh Đặng Văn D, sinh năm 1986; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).
- Chị Võ Thị H, sinh năm 1976; Nghề nghiệp: Buôn bán; Địa chỉ: Thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
- Chị Phan Thị Đ, sinh năm 1979; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Địa chỉ: Thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
- Anh Phạm Đình N, sinh năm 1978; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Địa chỉ: Thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
- Chị Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1984; Nghề nghiệp: Buôn bán; Địa chỉ: Thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
- Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1979 Nghề nghiêp: Lao động tự do; Địa chỉ: Thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
- Ông Phan Văn H, sinh năm: 1972; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Địa chỉ: Thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).
- Ông Phan Văn V, sinh năm 1976; Nghề nghệp: Thợ xây; Địa chỉ: Thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
- Anh Phan Văn H, sinh năm 1991; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
- Anh Phạm Văn G, sinh năm 1986; Nghề nghiệp: Lao độngtự do; Địa chỉ: Thôn Lâm Bình, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
- Ông Thái Thế Q, sinh năm 1978; Nghề nghiệp: Cán bộ y tế; Địa chỉ: Thôn M, xã S, huyện Hương S, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
- Ông Bùi H, sinh năm 1966; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Địa chỉ: Thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
- Anh Phạm Mạnh C, sinh năm 1996; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
- Anh Đặng Thái T, sinh năm 1992; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ ngày 12/5/2022, anh Phạm Đình N (sinh năm 1978, trú tại thôn L, xã S, huyện Hương S) phát hiện anh Nguyễn Tiến S (sinh năm 1985, hộ khẩu thường trú tại xã T, huyện Ch, tỉnh Nghệ An và hiện cư trú tại thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh) tử vong tại nhà bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1962, trú tại thôn L, xã S, huyện Hương S (là mẹ của anh S) với nhiều vết thương trên người. Quá trình điều tra đã làm rõ nội dung như sau:
Nguyễn Ngọc N (sinh năm 1968, trú tại thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh) và anh Nguyễn Tiến S có mối quan hệ quen biết với nhau. Trong khoảng thời gian từ 19 giờ đến 23 giờ 30 phút ngày 11/5/2022, Nguyễn Ngọc N và anh Nguyễn Tiến S ngồi ăn, uống rượu ở phòng bếp tại nhà bà Nguyễn Thị P (mẹ đ S) ở thôn L, xã S, tỉnh hà Tĩnh. Trong lúc uống rượu, Nguyễn Ngọc N thấy rượu có mùi hèm, khó uống nên đã nói với Nguyễn Tiến S “rượu mi có mùi hèm, tau không uống được mô” nên giữa N với S đã xảy ra mâu thuẫn, xích mích và S đã lấy 02 con dao ở trên mặt bàn bếp để đánh nhau và N đã lấy dao từ trong túi quần của mình rồi cả hai dùng dao đâm, chém nhau. Hậu quả Nguyễn Tiến S bị Nguyễn Ngọc N dùng dao đâm 13 nhát ở vùng ngực, bụng, lưng, tay dẫn đến tử vong do mất máu cấp. Còn Nguyễn Ngọc N bị thương tích ở vùng thái dương trái và tay trái với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 06%. Sau khi gây án, Nguyễn Ngọc N đi về nhà và cất con dao dưới gối trên giường ngủ (Bút lục số: 51-64; 70-83; 150-163; 193- 230). Đến gần trưa ngày 12/5/2022 khi được Cơ quan điều tra yêu cầu lên làm việc thì Nguyễn Ngọc Nđã đầu thú khai nhân toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Chiều ngày 12/5/2022, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét nhà ở của Nthu giữ tại đầu giường ngủ con dao (loại dao Thái) mà Nđã sử dụng đâm chết anh S và chiếc áo phông ngắn tay màu xanh trước ngực có chữ “Nike”(trên áo có nhiều vết nâu đỏ) mà Nmặc khi gây án.
Biên bản khám nghiệm hiện trường vào hồi 12 giờ 50 phút ngày 12/5/2022 t i nhà bà Nguyễn Th P thuộc thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh phản ánh: Hiện trường xảy ra vụ việc được xác định tại nhà bà Nguyễn Thị P ở thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Nhà gồm 03 phòng, phòng khách phía trước rộng (6x5)m; phòng ngủ ở giữa, giáp tường phía Tây rộng (4,65x3,7)m, có cửa mở ra hàng lang trong nhà, hàng lang có kích thước (1,35x3,7)m; phía sau là phòng bếp rộng (6x3)m.
Tại góc Đông Bắc của phòng khách có đặt 01 chiếc giường gỗ kích thước (1,65x2)m, đầu giường quay về phía Nam, trên giường có 01 chiếc nệm 02 tấm đã bị tách rời, trên nửa tấm nệm phía ngoài dính chất màu nâu; góc Tây Nam của giường đặt 01 chiếc gối, mặt trên chiếc gối dính chất màu nâu; trên chiếc chiếu dưới nệm ví trí khoảng giữa 02 tấm nệm có dấu vết màu nâu dạng nhỏ giọt và dạng bệt.
Tại góc Tây Bắc của giường phát hiện tử thi Nguyễn Tiến S trong tư thế quỳ úp mặt và bụng lên giường, hai chân quỳ xuống nền nhà, trên cơ thể có nhiều vết thương và dính nhiều máu. Cách chân phải tử thi 45cm về phía Nam phát hiện trên nền nhà có 01 con dao, cán dao cách giường 42cm, đầu lưỡi dao cách giường 50cm, dao dài 42,5cm, cán bằng gỗ dài 10cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 32,5cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 6cm. Trên nền phòng khách dính nhiều dấu vết màu nâu dạng nhỏ giọt, dạng đọng, tập trung nhiều nhất tại vị trí giáp mạ giường phía Tây ngay phía dưới gối (vị trí số 1).
Giáp bức tường phía Nam của phòng khách và giáp hàng lang trước phòng ngủ đặt 01 chiếc bàn gỗ kích thước (1,2x0,6)m, cao 0,5m, trên bàn đặt 01 chiếc tivi, 02 dây cắm chuyền màu vàng. Mặt trên và màn hình tivi có nhiều dấu vết màu nâu dạng nhỏ giọt, dạng chảy, trên dây cắm chuyền và mặt bàn có nhiều dấu vết màu nâu dạng nhỏ giọt (vị trí số 02).
Trên bức tường phía Tây của hàng lang phát hiện nhiều dấu vết màu nâu dạng bắn chảy trên diện (1,9x3,7)m. Dưới nền hàng lang có nhiều dấu vết màu nâu dạng nhỏ giọt và dạng vết chân trần (chân trái và chân phải) hướng đi từ phòng bếp ra phòng khách, bàn chân dài từ gót đến ngón là 25,2cm, chỗ rộng nhất là 9,8cm, gót chân rộng 5,1cm. Trên nền hàng lang cách bức tường phía Đông 50cm, cách đầu hàng lang phía Bắc 80cm phát hiện 01 con dao dài 43cm, cán bằng gỗ tròn bịt kim loại hai đầu dài 12,7cm, lưỡi bằng kim loại, chỗ rộng nhất của lưỡi là 5,3cm, phần mũi bị gãy đã cũ, trên cán và lưỡi dao dính chất màu nâu (vị trí số 3).
Trong phòng bếp giáp bức tường phía Bắc và giáp hàng lang đặt 01 chiếc bàn gỗ kích thước (1,2x0,6)m, cao 0,56m, trên mặt bàn có đặt ấm, phích, ca chén uống nước, tại góc phía Tây Bắc của bàn đặt 01 chai thủy tinh đựng chất lỏng trong suốt. Trên thân chai thủy tinh có nhiều dấu vết màu nâu dạng chảy, tại bức tường giáp vị trí đặt chai có nhiều dấu vết màu nâu dạng chảy. Trên mặt bàn phía Tây có 01 hộp vỏ dao bằng gỗ, trên hộp dao, ấm nước, 1/3 mặt bàn phía Tây có nhiều dấu vết màu nâu dạng nhỏ giọt. Giáp góc phía Tây Nam của bàn có đặt 02 chiếc ghế nhựa, mặt của 02 chiếc ghế dính nhiều dấu vết màu nâu dạng nhỏ giọt. Tại góc phía Đông Nam của mặt bàn dính một số dấu vết màu nâu dạng nhỏ giọt. Giáp với góc Đông Nam của bàn có đặt 01 chiếc ghế nhựa màu đỏ, trên mặt ghế dính 01 dấu vết màu nâu dạng nhỏ giọt (vị trí số 4).
Trên nền bếp có nhiều dấu vết màu nâu dạng nhỏ giọt và dạng vết chân trần có kích thước bằng vết chân tại vị trí số 3. Các dấu vết màu nâu nhiều nhất tại vị trí giáp chiếc ghế nhựa tại góc phía Đông Nam của bàn gỗ và tại vị trí giáp bếp (vị trí số 5).
Tại góc phía tây Nam phòng bếp giáp bức tường phía Nam là bàn bếp rộng (2,4x0,6)m, cao 0,8m, mặt bàn được lát gạch men. Tại phía Đông Bắc của mặt bàn bếp có nhiều dấu vết dạng nhỏ giọt, dạng đọng, chảy, quệt kích thước (86x45)cm. Trên nền bếp tương ứng với vị trí này dặt 01 chiếc ghế nhựa, trên mặt ghế có nhiều dấu vết màu nâu dạng nhỏ giọt (vị trí số 6).
Trên nền sân nhà bà Phương kéo dài ra đến ngõ, ra đường Giang- Lâm- Lĩnh kéo về phía Tây của đường phát hiện 01 đường dấu vết màu nâu dạng nhỏ giọt, mức độ dấu vết giảm dần từ cửa ra vào nhà ra đến đường (Bút lục số 70-75)
* Biên bản khám nghiệm tử thi do Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Tĩnh lập hồi 11 giờ 30 phút ngày 12/5/2022, phản ánh: Tử thi được xác định là Nguyễn Tiến S (sinh năm 1985, hộ khẩu thường trú tại thôn T, huyện Ch, tỉnh Nghệ An) chiều dài tử thi 1,65m, thể trạng trung bình và trong tình trạng co cứng. Các dấu vết tổn thương trên cơ thể:
- Vùng ngực bên trái, cách bờ dưới xương đòn trái 2cm, cách đường giữa 10cm có kích thước (2,5x1)cm, chiều hướng từ trái sang phải, từ dưới lên trên;
- Vùng ngực bên phải, cách núm vú phải 2cm, cách hõm nách bên phải 10cm có vết thương kích thước (2x0,5)cm, chiều hướng từ dưới lên trên;
- Ngay đầu dưới xương ức có vết thương kích thước (1,5x0,5)cm, chiều hướng từ dưới lên trên;
- Vùng bụng bên phải, cách đường giữa 4cm, cách trên rốn 10cm có vết thương kích thước (1,5x0,5)cm, chiều hướng từ phải qua trái, sâu vào trong ổ bụng;
- Trên đường nách giữa bên rái; cách hõm nách 14cm có vết thương kích thước (1x0,5)cm, chiều hướng từ dưới lên trên, từ sau ra trước;
- Mặt ngoài 1/3 trên cánh tay trái có 02 vết thương có chiều hướng từ dưới lên trên, kích thước (2x0,5)cm và (3x1)cm; cách dưới 02 vết thương này có vết xước da dài 8cm;
- Mặt trước 1/3 trên cánh tay phải có 02 vết thương, kích thước (1x0,5)cm và (2x1)cm; 02 vết thương này sâu chạm xương;
- Mặt trong 1/3 dưới cẳng tay phải có 02 vết thương, kích thước (4x1)cm và (7x1,5)cm; 02 vết thương này thông nhau;
- Vùng lưng bên phải, cách đường giữa 4cm, cách gai chậu sau trên 20cm có vết thương kích thước (2x0,5)cm, chiều hướng từ dưới lên trên, từ sau ra trước;
- Vùng lưng bên trái, cách đường giữa 10cm, cách gai chậu sau trên 17cm có vết thương kích thước (2x0,5)cm, chiều hướng từ dưới lên trên;
- Vết thương vùng bụng bên phải làm xuyên gan, trong ổ bụng chứa nhiều máu.
- Vết thương vùng lưng bên phải xuyên qua khoang liên sườn 8-9 làm thủng nhô mô phổi phải, trong lồng ngực bên phải chứa nhiều máu loãng lẫn máu cục;
- Dạ dày chứa thức ăn chưa nhuyễn.
* Kết luận giám đ nh pháp y tử thi số 524 /KL-KTHS ngày 16/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh, kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Tiến S do mất máu cấp. Khoảng thời gian tử vong của nạn nhân Nguyễn Tiến S được xác định trong khoảng từ 20 giờ 30 phút đến 23 giờ 30 phút ngày 11/5/2022.
- T i văn bản số 163/PC09 ngày 12/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Tĩnh xác đ nh: Cơ chế hình thành các vết thương trên cơ thể của anh Nguyễn Tiến S được hình thành do tác động bởi ngoại lực (bị đâm) bằng vật cứng, sắc nhọn.
* T i bản kết luận giám đ nh số 1774/KL-KTHS ngày 20/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:
- Mẫu được ký hiệu A1, A2, A8, A21 (02 con dao; trên mặt bàn bếp và quần của Nguyễn Đình S) đều có vết máu của Nguyễn Tiến S.
- Mẫu được ký hiệu A22 (vết màu nâu thu ở bờ tường phía trong phòng ngủ của Nguyễn Ngọc N) có dấu vết máu của Nguyễn Ngọc N.
- Các mẫu được ký hiệu A23, A24, A25 (01 con dao dài 21cm, cán dao bằng nhựa màu vàng dài 10cm; 01 chiếc áo phông, 01 chiếc quần dài thu giữ tại nhà của Nguyễn Ngọc N) có dấu vết máu, tế bào của Nguyễn Tiến Svà Nguyễn Ngọc N.
- Các mẫu được ký hiệu A3, A4, A5, A6, A7, A9, A10, A11, A12, A13,A14, A15, A17, A18, A19, A20 gửi đến giám định đều có dấu vết máu người nhưng chất lượng dấu vết kém nên không xác định được hồ sơ kiểu gen (Bút lục số 104-105).
* T i bản kết luận giám đ nh pháp y về thương tích đối với b can Nguyễn Ngọc N số 73/TgT ngày 31/5/2022 của Trung tâm pháp y và giám đ nh y khoa tỉnh Hà Tĩnh, kết luận:
- Vùng thái dương trái sẹo vết thương kích thước 04cmx01cm, tỷ lệ tổn thương cơ thế 02%.
- Vùng vai trái sẹo vết thương kích thước 0,7cmx 0,4cm, mỏm cùng vai trái sẹo vết thương 01x0,4cm, tỷ lệ tổn thương cơ thế 01%.
- Mỏm cùng vai trái sẹo vết thương kích thước 01cmx 0,4cm, tỷ lệ tổn thương cơ thế 01%.
- Mặt ngoài 1/3 giữa cánh tay trái 02 sẹo vết thương trên kích thước 1,8cmx0,4cm, sẹo kích thước 01cmx 0,3cm, tỷ lệ tổn thương cơ thế 01%.
- Mặt ngoài trước trên 1/3 giữa cẳng tay trái sẹo vết thương kích thước 2.4cmx0,6cm, tỷ lệ tổn thương cơ thế 01%.
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thế do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 06%.
- T i văn bản số 128/TTPY&GĐYK ngày 20/6/2022 của Trung tâm pháp y và giám đ nh y khoa, Sở y tế Hà Tĩnh xác đinh: Cơ chế hình thành các vết thương trên cơ thể của Nguyễn Ngọc N là do vật sắc nhọn tác động vào gây nên; đối với 02 con dao mà cơ quan điều tra đã thu giữ tại hiện trường và 01 con dao dài 21cm, cán bằng nhựa màu vàng thu giữ ở giường của Nguyễn Ngọc N có thể tạo nên được vết thương trên cơ thể của Nguyễn Ngọc N.
* Kết luận giám đ nh pháp y tâm thần số 23/KLGĐ ngày 26/7/2022 của Phân viện pháp y tâm thần Bắc Miền Trung kết luận: Tại thời điểm trước và trong khi thực hiện hành vi phạm tội, bị can Nguyễn Ngọc N bị bệnh các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu với hội chứng nghiện, theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992, có mã bệnh F10.2; tại các thời điểm sau khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định bị can Nguyễn Ngọc N bị bệnh các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu với hội chứng nghiện, hiện đang cai nhưng ở môi trường được bảo vệ, theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 có mã bệnh F10.21. Tại tất cả các thời điểm nêu trên, Nguyễn Ngọc N đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.
* Vật chứng, đồ vật, tài liệu đã thu giữ: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu 03 con dao gồm: 01 con dao dài 42,5cm (cán bằng gỗ dài 10cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 32,5cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 06cm); 01 con dao dài 43cm (cán bằng gỗ trên bịt kim loại màu trắng hai đầu, dài 12,7cm, lưỡi dao bằng kim loại, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 5,3cm, mũi dao bị gãy) và 01 con dao, loại dao Thái Lan, dài 21cm (cán dao bằng nhựa màu vàng dài 10cm, trên cán dao có chữ LION, cán dao có 01 lỗ tròn, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng, dài 11cm, nơi rộng nhất của lưỡi dao là 1,8cm, mũi dao nhọn, một bề sắc, trên lưỡi dao có dòng chữ “Lion Brand Stainless Steel”); 01 chiếc quần bò lửng màu xanh thu giữ của Nguyễn Tiến S; 01 chiếc quần dài chun màu xám, mặt trước ống quần bên trái, phía dưới túi quần có dòng chữ SPORT màu xanh, 01 chiếc áo phông ngắn tay màu xanh, phía trước ngực áo có chữ NIKE màu trắng và 02 chiếc dép tổ ong (dép lê) màu đen, một chiếc cỡ 42, một chiếc cỡ 44, trên bề mặt mỗi chiếc dép có 02 dòng chữ “Sandales”, “EXPORJ” đều thu giữ của Nguyễn Ngọc N. Các vật chứng trên đã được chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh để xử lý theo quy định của pháp luật.
* Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của người bị hại là bà Nguyễn Thị P (Mẹ đ bị hại) yêu cầu bị cáo Nguyễn Ngọc N bồi thường số tiền 20.000.000 đồng, ngoài ra không yêu cầu gì thêm. Bị cáo N đã tác động gia đình bồi thường giúp và chị Nguyễn Thị Ngọc A (con gái bị cáo) đã bồi thường đầy đủ số tiền trên theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị P. Bà Nguyễn Thị P không có yêu cầu gì thêm về dân sự.
Với hành vi trên, Cáo trạng số 72/CT-VKS-P2 ngày 26/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc N về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giữ nguyên quyết định truy tố, sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo Nguyễn Ngọc N đã gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc N phạm tội “Giết người”
- Về mức hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; xử phạt Nguyễn Ngọc N mức án từ 11 năm đến 12 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ 13/5/2022.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình bị cáo đã bồi thường đầy đủ số tiền 20.000.000 đồng theo yêu cầu của đại diện người bị hại, nay các bên không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị HĐXX miễn xét. Ngoài ra đại diện viện kiểm sát còn đề nghị tịch thu, tiêu hủy các vật chứng theo quy định của pháp luật và bị cáo thuộc diện hộ ngh o nên đề nghị miễn án phí cho bị cáo theo luật định.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc N nhất trí không có ý kiến gì tranh luận về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm e khoản 1 điều 51 cho bị cáo đồng thời xem xét điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, tại thời điểm trước và trong khi thực hiện hành vi phạm tội, bị can Nguyễn Ngọc N bị bệnh các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu với hội chứng nghiện, quá trình tạm giam bị cáo đã thực sự ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, trước khi xét xử sơ thẩm bị cáo cũng đã tác động gia đình bồi thường dân sự đầy đủ cho đại diên gia đình bị hại để giảm nhẹ cho bị cáo và đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo mức án là 07 năm tù. Bị cáo Nguyễn Ngọc N không có ý kiến gì tranh luận chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt. Đại diện viện kiểm sát không nhất trí áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm e khoản 1 điều 51BLHS cho bị cáo như người bào chữa đề nghị vì không có căn cứ và giữ nguyên quan điểm đã đề nghị tại phiên tòa.
Người đại diện gia đình người bị hại là bà Nguyễn Thị Phương đã nhận đủ 20.000.000 đồng tiền bồi thường dân sự nên không có ý kiến gì về phần dân sự đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo và đề nghị xử phạt bị cáo mức án 10 năm tù.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận, cũng không có ý kiến, yêu cầu gì về phần dân sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, luật sư bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận tất cả các hành vi, cách thức thực hiện tội phạm của mình đúng như bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, các kết luận giám định, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, vật chứng thu giữ cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tuy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai thời gian bị cáo đâm chết anh S là khoảng từ 11 giờ đến 12 giờ trưa ngày 11/5/2022 nhưng lời khai của một số người làm chứng như bà Đặng Thị T, anh Phạm Mạnh C, người liên quan Nguyễn Thị Ngọc A thì khoảng từ 18 giờ 30 đến 19 giờ chiều ngày 11/5/2022 thì họ còn gặp anh Nguyễn Tiến S, tại lời khai của bà Võ Thị H phán ánh sáng ngày 12/5/2022 khi ra quán bà H mua hàng Nguyễn Ngọc N đã nói với bà H tối qua đã đâm chết Nguyễn Tiến S, tại văn bản số 134/PC09 ngày 06/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tĩnh Hà Tĩnh trên cơ sở khám nghiệm tử thi về độ co cứng của nạn nhân khi khám nghiệm cũng đã kết xác định thời gian anh Nguyễn Tiến S tử vong cách trước thời điểm khám nghiệm tử thi (11giờ 30 phút ngày 12/5/2022) từ 12 giờ đến 15 giờ và căn cứ sự tiêu hóa của thức ăn trong dạ dày của nạn nhân (thức ăn chưa nhuyễn) thì thời gian tử vong của nạn nhân sau ăn dưới 3 giờ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng từ 19 giờ đến 23 giờ 30 phút ngày 11/5/2022, Nguyễn Tiến S cùng Nguyễn Ngọc N uống rượu với nhau tại nhà bà Nguyễn Thị P (Mẹ đ của S) ở thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Quá trình uống rượu giữa hai người đã xảy ra mâu thuẫn xích mích dẫn đến xâu ẩu lẫn nhau. Nguyễn Tiến S đã lấy 02 con dao ở trên mặt bàn bếp để đánh nhau và Nguyễn Ngọc N đã lấy dao từ trong túi quần của mình rồi cả hai dùng dao đâm, chém nhau. Hậu quả Nguyễn Tiến S bị đâm 13 nhát ở vùng ngực, bụng, lưng, tay và tử vong do mất máu cấp; còn Nguyễn Ngọc N bị thương tích ở vùng thái dương trái và tay trái với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 06%. Đến ngày 12/6/2022, Nguyễn Ngọc N đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình nên khi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hương S, tỉnh Hà Tĩnh yêu cầu lên làm việc, N đã đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Giết người”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 điều 123 BLHS. Vì vậy, Cáo trạng số 72/CTr -VKS-P2, ngày 26 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc N về tội danh, khoản, điều luật nói trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm hại đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Tại thời điểm phạm tội bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đủ năng lực trách nhiệm hình sự đồng thời là người quen biết với bị hại nhưng chỉ vì mâu thuẫn trong cuộc rượu, thiếu sự kiềm chế đã dẫn đến xâu ẩu giữa hai bên và bị cáo đã dùng dao đâm nhiều nhát vào người S, trực tiếp gây nên cái chết của anh Nguyễn Tiến S. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường tính mạng người khác, gây mất mát về tinh thần, vật chất cho gia đình bị hại đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình an ninh trật tự, gây hoang mang trong dư luận và quần chúng nhân dân. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo đồng thời đảm bảo tính giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.
Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú, gia đình thuộc diện hộ nghèo, tại các thời điểm sau khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định bị cáo bị bệnh các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu với hội chứng nghiện, bản thân bị cáo cũng bị thương tích 06% khi hai người đánh nhau, hoàn cảnh gia đình vợ mất đã lâu, sống một mình, trình độ văn hóa, nhận thức pháp luật hạn chế. Quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm bị cáo và gia đình bị cáo đã bồi thường về dân sự đầy đủ, đại diện gia đình người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Luật sư đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm e khoản 1 điều 51 BLHS nhưng không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình bị cáo đã bồi thường đầy đủ số tiền 20.000.000 đồng theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp của người bị hại. Tại phiên tòa không ai có ý kiến gì thêm về phần dân sự nên HĐXX miễn xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu, tiêu hủy các vật chứng là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và vật chứng không còn giá trị sử dụng, gồm: 03 con dao gồm: 01 con dao dài 42,5cm (cán bằng gỗ dài 10cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 32,5cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 06cm); 01 con dao dài 43cm (cán bằng gỗ trên bịt kim loại màu trắng hai đầu, dài 12,7cm, lưỡi dao bằng kim loại, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 5,3cm, mũi dao bị gãy, đã cũ) và 01 con dao, loại dao Thái Lan, dài 21cm (cán dao bằng nhựa màu vàng dài 10cm, trên cán dao có chữ LION, cán dao có 01 lỗ tròn, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng, dài 11cm, nơi rộng nhất của lưỡi dao là 1,8cm, mũi dao nhọn, một bề sắc, trên lưỡi dao có dòng chữ “Lion Brand Stainless Steel”); 01 chiếc quần bò lửng màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Tiến S; 01 chiếc quần dài chun màu xám, mặt trước ống quần bên trái, phía dưới túi quần có dòng chữ SPORT màu xanh, 01 chiếc áo phông ngắn tay màu xanh, phía trước ngực áo có chữ NIKE màu trắng và 02 chiếc dép tổ ong (dép lê) màu đen, một chiếc cỡ 42, một chiếc cỡ 44, trên bề mặt mỗi chiếc dép có 02 dòng chữ “Sandales”, “EXPORJ” đều thu giữ của Nguyễn Ngọc N (Tình tr ng, đ c đi m vật chứng như t i biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/11/2022 giữa Cơ quan điều tra và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh).
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là đối tượng hộ ngh o, có đơn xin miễn án phí nên cần chấp nhận và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo luật định. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
[1]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc N phạm tội “Giết người”
2 . Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc N 10 (Mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 13/5/2022.
[3].Về xử lý vật chứng, tài sản: Áp dụng Điều 46, điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 03 con dao gồm 01 con dao dài 42,5cm (cán bằng gỗ dài 10cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 32,5cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 06cm); 01 con dao dài 43cm (cán bằng gỗ trên bịt kim loại màu trắng hai đầu, dài 12,7cm, lưỡi dao bằng kim loại, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 5,3cm, mũi dao bị gãy, đã cũ) và 01 con dao, loại dao Thái Lan, dài 21cm (cán dao bằng nhựa màu vàng dài 10cm, trên cán dao có chữ LION, cán dao có 01 lỗ tròn, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng, dài 11cm, nơi rộng nhất của lưỡi dao là 1,8cm, mũi dao nhọn, một bề sắc, trên lưỡi dao có dòng chữ “Lion Brand Stainless Steel”); 01 chiếc quần bò lửng màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Tiến S; 01 chiếc quần dài chun màu xám, mặt trước ống quần bên trái, phía dưới túi quần có dòng chữ SPORT màu xanh, 01 chiếc áo phông ngắn tay màu xanh, phía trước ngực áo có chữ NIKE màu trắng và 02 chiếc dép tổ ong (dép lê) màu đen, một chiếc cỡ 42, một chiếc cỡ 44, trên bề mặt mỗi chiếc dép có 02 dòng chữ “Sandales”, “EXPORJ” đều thu giữ của Nguyễn Ngọc N.
Tình trạng, đặc điểm vật chứng như tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/11/2022 giữa Cơ quan điều tra và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
[4]. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12, khoản 6 điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Ngọc N.
[5]. Quyền kháng cáo bản án: n xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại bà Nguyễn Thị P, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Nguyễn Thị Ngọc A, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Thị L. Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND Cấp cao tại Hà Nội; - VKS tỉnh Hà Tĩnh; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh; - Phòng PV 27, PC44 Công an tỉnh Hà Tĩnh; - Trại tạm giam CA Hà Tĩnh; - THAHS TAND tỉnh Hà Tĩnh; - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh; - Bị cáo; Người bào chữa cho bị cáo; - Đại diện hợp pháp của người bị hại; - Đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của người bị hại; - Người liên quan; - Lưu HSVA - VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Khắc Hoàng |