- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Phạm Văn Tr bị truy tố về tội giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2022/HS-ST Ngày: 29-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế
Thẩm phán:
Ông Trịnh Xuân Miễn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Tuấn
Ông Phạm Văn Đông
Bà Nguyễn Thu Anh
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Kim Yến, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sang - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 78/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Phạm Văn Tr, sinh năm 1955 tại thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Khóm M, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn S (đã chết) và bà Lê Thị N (đã chết); vợ tên Nguyễn Thị H và có 03 người con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 15/4/2022; bị tạm giam từ ngày 24/4/2022 đến nay. Bị cáo có mặt.
- Người giám hộ cho bị cáo: Ông Phạm Văn D, sinh năm 1974 (con ruột của bị cáo, D bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi). Ông D có mặt.
Nơi cư trú: Khóm M, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau
- Người bào chữa cho bị cáo:
1. Luật sư Phan Khánh Dương của Văn phòng Luật sư Mũi Cà Mau thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Cà Mau. Luật sư có mặt.
2. Luật sư Trịnh Thanh Liệt của Văn phòng Luật sư Trịnh Thanh Liệt thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Cà Mau. Luật sư có mặt.
- Bị hại: Ông Phạm Văn Nh (đã chết)
- Người đại diện hợp pháp của bị hại, gồm có:
1. Ông Phạm Văn T, sinh năm 1954 (anh ruột bị hại)
Nơi cư trú: Số 6/84B, khóm P, phường Q, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu
2. Bà Phạm Thị H1, sinh năm 1960 (chị ruột bị hại)
Nơi cư trú: Ấp X, xã H, huyện Th, tỉnh Cà Mau
3. Bà Phạm Thị H2 (chị ruột bị hại), sinh năm 1963
4. Ông Phạm Văn Gi, sinh năm 1966 (anh ruột bị hại)
5. Bà Phạm Thị D1, sinh năm 1967 (chị ruột bị hại)
6. Ông Phạm Văn M, sinh năm 1967 (anh ruột bị hại)
Cùng nơi cư trú: Ấp B, xã H, huyện Th, tỉnh Cà Mau
7. Bà Phạm Thị M1, sinh năm 1971 (chị ruột bị hại)
Nơi cư trú: Ấp 2, xã Khánh An, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau
8. Ông Phạm Văn U, sinh năm 1974 (anh ruột bị hại)
Nơi cư trú: Ấp B, xã H, huyện Th, tỉnh Cà Mau
Bà H1, ông Gi, bà D1, ông M, bà M1 và ông U ủy quyền cho ông T. Ông T đại diện cho bà H2 D bà H2 bị bệnh động kinh. Ông T có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn Tr là anh ruột của Phạm Văn Nh, sinh năm 1977. Ông Nh không có vợ, con, ở chung nhà với mẹ ruột là bà Lê Thị N sinh năm 1932 bị bệnh già nằm một chỗ cùng chị ruột là bà Phạm Thị H2, sinh năm 1963 bị bệnh thiểu năng tại tại ấp B, xã H, huyện Th, tỉnh Cà Mau.
Ngày 14/02/2022, bà Phạm Thị H1 và Phạm Thị D1 (là chị ruột của Nh) đến nhà của Nh, cùng bà Phạm Thị H2 chăm sóc bà N. Khi Nh về nhà, không thấy ai ngồi bên cạnh chăm sóc cho bà N nên Nh bực tức chửi thề và đòi thuê người khác chăm sóc bà N. Bà H1 cho rằng Nh chửi bà H1 nên điện thoại kêu Tr đến để giải quyết. Khi Tr đến nhà Nh thì xảy ra cự cãi với Nh, Tr xông đến đánh Nh nhưng được can ngăn. Tr buộc Nh phải trả lại tiền trợ cấp cho bà H2 và thửa vuông tôm giáp ranh thửa vuông tôm của Tr, Nh không đồng ý và chửi lại Tr nên Tr tức giận đi về.
Khi về nhà, Tr nảy sinh ý định giết chết Nh và dìm xác Nh xuống vuông tôm. Cuối tháng 03/2022, Tr lấy 02 cây sắt phi 14, (01 cây dài 2,68m, 01 cây dài 1,40m) bẻ cong lại thành dạng móc và đến hàng cây trên bờ vuông giáp ranh giữa vuông tôm của Tr và vuông tôm của Phạm Kim Ch (con ruột của Tr) dùng búa chặt 02 cây gỗ có nhánh dạng móc. Sau đó, Tr mang 02 cây sắt và 02 cây gỗ này đến cất giấu trên bờ vuông giáp ranh giữa vuông tôm của Tr và vuông tôm của Nh (cách nhà Tr 285,5m), đợi khi có điều kiện thuận lợi sẽ giết Nh chết rồi dìm xác xuống đáy vuông tôm.
Đến khoảng 08 giờ 00 ngày 11/4/2022, Tr nhìn thấy Nh chống xuồng trong vuông tôm, Tr quyết định thực hiện việc giết Nh. Tr vào nhà lấy 01 cây rựa có chiều dài 74cm, lưỡi bằng kim loại, mũi cong, bề mặt lưỡi bị hoen gỉ, chiều rộng nhất của lưỡi 5,5cm để ở vách nhà trước và 01 cây chỉa có 01 mũi, cán bằng gỗ tre dài 0,47m, mũi nhọn bằng kim loại dài 0,76m) để ở góc nhà bếp mang ra xuồng đậu trong vuông tôm của Tr rồi dùng cây sào bằng gỗ tre gai (chiều dài 2,50m, chu vi lớn nhất 13cm, chu vi Nh nhất 7cm) chống xuồng đến bụi cây trên bờ đất giáp ranh giữa vuông tôm của Tr và vuông tôm của Nh (cách vị trí giấu 02 cây sắt và 02 cây gỗ 19,70m). Tr lên bờ đi đến vị trí giấu 02 cây sắt và 02 cây gỗ, Tr lấy 01 cây sắt dài 1,40m rồi quay lại vị trí bụi cây, Tr ném cây rựa, cây chỉa và cây sắt sang trảng vuông tôm của Nh rồi cầm cây sào nấp vào bụi cây chờ Nh chống xuồng đến.
Khi Nh chống xuồng đến, Tr dùng cây sào chống vào bờ đất nhảy qua trảng vuông tôm, phía trước mặt Nh. Tr cầm cây sào đánh trúng M1 cái vào vùng mặt của Nh, làm cho Nh té nằm ngửa xuống vuông, Tr tiếp tục cầm cây rựa chém M1 cái trúng vào vùng mặt bên trái của Nh, Nh co giật M1 lúc rồi bất động.
Khi thấy Nh không còn cử động, nghỉ là Nh đã chết, Tr dùng cây sắt đã ném qua trảng vuông tôm móc vào người Nh và kéo Nh qua kênh tiếp giáp bờ đất giáp ranh giữa vuông tôm của Nh và vuông tôm của ông Lâm Văn Hiền (cách vị trí chém Nh 20,70m). Tr dùng 02 cây gỗ và 02 cây sắt đã chuẩn bị sẵn cắm cố định phần thân người ông Nh xuống đáy kênh. Thấy chưa chắc chắn, Tr tiếp tục lấy cây rựa đến hàng cây (đã chặt 02 cây gỗ trước đó) chặt thêm 02 cây gỗ có nhánh dạng móc mang đến vị trí dìm xác Nh tiếp tục cắm chặt phần đầu và chân của Nh xuống đáy kênh, không để xác của Nh nổi lên mặt nước.
Sau đó, Tr đến vị trí chém Nh, dìm xuồng Nh xuống nước, rồi lấy cây sào bằng gỗ tre của Nh, cây rựa và cây chỉa lên xuồng của Tr chống xuồng về nhà để lại cây sào dùng để đánh Nh tại vuông tôm của Nh. Tr cặm cây sào ở vị trí đậu xuồng rồi đi vào nhà cất giấu cây rựa ở vách nhà trước và cất giấu cây chỉa ở nhà bếp.
Khoảng 10 giờ 00 cùng ngày, Tr đi ra cống vuông tôm của Nh giáp ranh với kênh Giồng Kè dẫn chiếc xe mô tô Suzuki Smash màu đen biển số 52P8-9707 của Nh đang đậu trên lộ xi măng đến sàn gỗ trước nhà của Tr rồi đẩy chiếc xe xuống kênh Giồng Kè để che giấu hành vi phạm tội. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, Tr gọi taxi đến nhà đưa vợ là bà Nguyễn Thị H1 đến Bệnh viện Đa khoa thành phố Cà Mau điều trị bệnh do bà H1 bị tăng huyết áp.
Đến ngày 13/4/2022, không thấy ông Nh về, ông Phạm Văn Gi (anh ruột của Nh) cùng người thân trong gia đình và chính quyền địa phương tổ chức tìm kiếm. Đến khoảng 17 giờ 20 phút cùng ngày thì phát hiện xác của Nh bị dìm cố định dưới vuông tôm của Nh ở khóm M, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Ngày 14/4/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cà Mau mời Tr làm việc. Đến ngày 15/4/2022, Tr khai nhận toàn hành vi phạm tội. Ngoài ra, Tr còn khai nguyên nhân giết Nh là D Nh hỗn hào với anh chị trong nhà và muốn lấy lại phần đất vuông mà Nh đang canh tác cặp ranh đất với Tr.
* Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 105/KL-KTHS, ngày 31 tháng 5 năm 2022, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, đối với nguyên nhân chết của Phạm Văn Nh, kết luận:
Khám ngoài:
- Tử thi là nam giới, tóc hớt cao. Chiều dài tử thi 1m63; thể trạng: Trung bình. Tình trạng tử thi: Trương sình thối rữa, tử khí nồng nặc, thời kỳ phân hủy mạnh, trên 72 giờ.
- Quần áo, màu sắc: Mặc áo sơ mi dài tay màu đỏ, nU bóp, cột hai vạt áo, có vết rách ở mặt sau cánh tay trái dạng hình chữ “L”, cạnh: 14cm, mặc quần Kaki màu xám, trong túi quần trước bên trái có tờ tiền 10.000 đồng, túi quần trước bên phải có chùm chìa khóa, bên trong quần si líp màu đen, viền màu đỏ .
- Các dấu vết, tổn thương trên cơ thể:
+ Toàn thân trương sình phồng rộp tróc hết da giấy.
+ Đầu + Mặt + Cổ: Vùng đầu tóc rụng tự nhiên không phát hiện dấu thương tích, hai tai tróc hết da giấy; hai mắt lộ ra ngoài, kết mạc mắt trái sung huyết, má trái có vết thương, kích thước: 5cm x 4,5cm, lưỡi thè ra ngoài, các răng không gãy, góc hàm phải xuống cổ phải có dấu hằn, kích thước 17cm x 7cm, bầm tụ máu dưới da ở góc hàm trái.
+ Gáy: Không phát hiện tổn thương.
+ Ngực, bụng: Vùng ngực có dấu hằn, kích thước: 34cm x 2cm, bụng có dấu hằn, kích thước 45cm x 2,5cm.
+ Lưng + Mông + Bộ phận sinh dục: Lưng không phát hiện dấu thương tích, hậu môn dính nhiều phân, bộ phận sinh dục phình to không phát hiện dấu thương tích.
+ Chi trên, chi dưới: Bông tróc hết da giấy không phát hiện thương tích.
Khám trong:
Rạch da đầu theo đường liên đỉnh tai kiểm tra:
- Không thấy bầm tụ máu dưới da đầu.
- Bóc tách màng xương sọ không thấy nứt vỡ xương sọ.
- Mở hộp sọ kiểm tra: Không thấy tụ máu trong, ngoài màng cứng, tổ chức não phân hủy dạng chao. Tổ chức não ở vùng tiểu não có màu nâu sẫm, dưới nền sọ không thấy nứt vỡ.
- Bộc lộ da cơ vùng mặt: Phát hiện bầm tụ máu dưới da cơ từ hóc mắt trái xuống gốc hàm trái.
- Vỡ xương hốc mắt trái, vỡ toàn bộ xoang hàm trái, gãy xương hàm trên, hàm dưới trái.
- Đốt sống cổ không phát hiện tổn thương.
Rạch da theo đường giữa từ cổ xuống bụng kiểm tra:
- Không thấy bầm tụ máu dưới da vùng cổ, ngực, bụng.
- Động mạch cảnh cổ phải không thấy bầm tụ máu, không phù nề.
- Khí quản không bầm tụ máu.
- Mở khí quản kiểm tra: Trong lòng khí quản có chứa nhiều dị vật màu đen.
- Các xương sườn không phát hiện tổn thương.
- KH2ng ngực hai bên chứa khoảng 1000ml dịch màu đỏ loãng.
- Nhu mô phổi phải + trái phù nề sung huyết, đang trong thời kỳ phân hủy.
- KH2ng bụng không máu.
- Tổ chức gan thời kỳ phân hủy mạnh, lách, dạ dày, các quay ruột không phát hiện tổn thương.
- Cắt dạ dày kiểm tra: Trong dạ dày thức ăn đang tiêu hóa chưa nhuyễn.
Dấu hiệu chính qua giám định:
- Toàn thân trương sình phồng rộp tróc hết da giấy.
- Hai mắt lộ ra ngoài.
- Kết mạc mắt trái sung huyết.
- Chi trên: Bong tróc hết da giấy không phát hiện thương tích.
- Chi dưới: Bong tróc hết da giấy không phát hiện thương tích.
- Trong lòng khí quản có chứa nhiều dị vật màu đen.
- KH2ng ngực hai bên chứa khoảng 1000ml dịch màu đỏ loãng.
- Nhu mô phổi phải + trái phù nề sung huyết.
- Kết luận giám định mô bệnh học: Phổi sung huyết, dịch hồng trong lòng và vách phế nang.
Nguyên nhân chết: Ngạt nước.
* Kết luận giám định Pháp y tâm thần theo trưng cầu số: 285/2022/KLGĐ, ngày 27 tháng 9 năm 2022, của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ, đối với tình trạng tâm thần của bị can Phạm Văn Tr, kết luận:
- Về y học: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi phạm tội và hiện tại: Đương sự có bệnh lý tâm thần: Rối loạn nhân cách thực tổn (F07.0 – ICD10).
- Về năng lực: Tại thời điểm phạm tội và hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
* Kết luận định giá tài sản số: 08/KL-HĐĐG, ngày 04/10/2022, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Cà Mau, kết luận về giá của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Smash biển số 52P8 – 9707 của Phạm Văn Nh:
- Tại thời điểm ngày 11/4/2022 là 3.052.000 đồng.
- Tại thời điểm ngày 15/04/2022 là: 2.182.000 đồng.
(Giá trị tài sản bị thiệt hại là 870.000 đồng).
Tại bản Cáo trạng số 72/CT-VKS-P1 ngày 15/11/2022 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau truy tố Phạm Văn Tr về tội “Giết người” theo điểm n, q khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu:
+ Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị áp dụng điểm n, q khoản 1 Điều 123; điểm b, q, s, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo phạm tội “Giết người”, phạt bị cáo tù chung thân.
+ Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo đồng ý bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại với tổng số tiền 272.029.000 đồng, khấu trừ 40 triệu đồng phía gia đình bị cáo đã bồi thường, còn lại phải tiếp tục bồi thường là 232.029.000 đồng.
+ Về xử lý vật chứng:
. Tịch thu tiêu hủy: 17 đoạn cây gỗ, 05 đoạn cây tre, 02 đoạn cây sắt, 02 thanh kim loại, 02 cây rựa, 01 cây búa, 01 áo sơ mi, 01 quần kaki, 01 quần silip, 01 quần cụt, 01 chùm chìa khóa, 01 túi ni long, 01 áo mưa ni long, 01 cái thùng nhựa, 01 cái nón kết, 01 cây chỉa;
. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc xuồng Composite màu xanh dài 4,68m, rộng nhất 90cm của bị cáo;
. Trả lại cho những người đại diện hợp pháp của bị hại gồm: 01 xe mô tô biển số 52P8-9707; 01 nón bảo hiểm; 01 chiếc xuồng Composite màu xanh dài 4,30m, rộng nhất 84cm; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, loại điện thoại TA-i034;
. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia kiểu bàn phím.
- Ông T trình bày: Xin giảm nhẹ hình phạt ở mức thấp nhất cho bị cáo; Yêu cầu bị cáo Tr phải bồi thường tổng số tiền là 272.029.000 đồng (gồm 122.159.000 đồng tiền mai táng phí, 149.000.000 đồng tiền tổn thất tinh thần và 870.000 đồng tiền sửa chữa xe), khấu trừ 40 triệu đồng phía con bị cáo đã bồi thường, còn lại phải tiếp tục bồi thường là 232.029.000 đồng.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị áp dụng hình phạt tù có thời hạn cho bị cáo.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, xin được giảm nhẹ hình phạt. Đồng ý bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại với tổng số tiền 232.029.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. D đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội là phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 14/02/2022, Phạm Văn Tr có mâu thuẫn với em ruột là Phạm Văn Nh trong việc chăm sóc mẹ ruột là bà Lê Thị N và việc canh tác vuông tôm tại khóm M, phường T, thành phố C, nên Tr đã nảy sinh ý định giết chết Nh rồi giấu xác để lấy phần đất vuông nuôi tôm mà Nh đang canh tác. Đến cuối tháng 3/2022, Tr chuẩn bị sẵn dụng cụ để sau khi giết Nh rồi dìm xác xuống đáy vuông nuôi tôm. Đến ngày 11/4/2022, khi thấy Nh một mình chống xuồng ra vuông thì Tr thực hiện hành vi dùng cây sào bằng gỗ đánh M1 cái trúng vào vùng mặt của Nh làm cho Nh té xuống vuông, rồi Tr tiếp tục dùng cây rựa chém M1 cái vào vùng mặt của Nh, làm cho Nh bất tỉnh. Sau đó, Tr kéo Nh xuống kênh trong vuông tôm rồi dùng 02 cây sắt, 04 cây gỗ cắm cố định xác Nh xuống vuông tôm để che giấu hành vi phạm tội. Giám định xác định nguyên nhân Nh chết D ngạt nước. Với những tình tiết như trên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Tr về tội “Giết người” theo Điều 123 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến quyền được sống của em ruột là Phạm Văn Nh được pháp luật bảo vệ, gây bức xúc trong dư luận xã hội và ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình trật tự tại địa phương. Quá trình phạm tội, bị cáo đã chuẩn bị hung khí, công cụ và quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng nhằm tước đoạt mạng sống của bị hại Nh thể hiện tính côn đồ. Bị cáo giết bị hại để lấy phần đất vuông nuôi tôm thể hiện động cơ đê hèn. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp quy định tại điểm n, q khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự đúng như Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đã truy tố. Bị cáo xâm phạm tính mạng của người khác trái pháp luật, phạm tội thì phải bị xử lý và chịu hình phạt theo pháp luật hình sự.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có cân nhắc đến các tình tiết giảm nhẹ sau đây cho bị cáo: Đã bồi thường được một phần thiệt hại; Tại thời điểm phạm tội, bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do có bệnh lý tâm thần (rối loạn nhân cách thực tổn (F07.0-ICD10); Thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; Bị cáo là người có thành tích xuất sắc trong chiến đấu (được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất), ngoài ra còn có nhiều thành tích trong công tác và hoạt động sản xuất, góp phần xây dựng địa phương; Chưa có tiền án, tiền sự; Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt ở mức thấp nhất cho bị cáo; Có em ruột tên Phạm Văn Gi là người có công với cách mạng (tham gia bảo vệ tổ quốc tại chiến trường Campuchia được hưởng trợ cấp người có công); Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có một phần xuất phát từ việc bị cáo bị ức chế kéo dài do sự hỗn xược của bị hại đối với bị cáo cũng như đối với anh chị em trong gia đình; Bị cáo muốn lấy lại phần đất là để cho em gái Phạm Thị H2 bị bệnh thiểu năng có cơ sở sản xuất nuôi sống bản thân.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các đặc điểm nhân thân của bị cáo, xét đề nghị về mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội có thời hạn cũng đủ thời gian để cải tạo bị cáo thành người tốt cũng như phòng ngừa chung.
Với các phân tích như trên, ý kiến của các luật sư bào chữa cho bị cáo được chấp nhận. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát được chấp nhận một phần.
Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc đồng ý bồi thường theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp của bị hại với tổng số tiền là 272.029.000 đồng (gồm 122.159.000 đồng tiền mai táng phí, 149.000.000 đồng tiền tổn thất tinh thần và 870.000 đồng tiền sửa chữa xe), khấu trừ 40 triệu đồng phía con bị cáo đã bồi thường, còn lại bị cáo đồng ý tiếp tục bồi thường 232.029.000 đồng.
Trường hợp chậm thanh toán số tiền nói trên, bị cáo còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo quy định.
Về xử lý vật chứng:
Vật chứng không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy gồm: 17 đoạn cây gỗ, 05 đoạn cây tre, 02 đoạn cây sắt, 02 thanh kim loại, 02 cây rựa, 01 cây búa, 01 áo sơ mi, 01 quần kaki, 01 quần silip, 01 quần cụt, 01 chùm chìa khóa, 01 túi ni long, 01 áo mưa ni long, 01 cái thùng nhựa, 01 cái nón kết, 01 cây chỉa.
Vật chứng có giá trị cần tịch thu sung quỹ Nhà nước gồm 01 (một) chiếc xuồng Composite màu xanh dài 4,68m, rộng nhất 90cm của bị cáo.
Trả lại cho những người đại diện hợp pháp của bị hại (Do ông Phạm Văn T đại diện nhận) các vật chứng gồm: 01 (một) xe mô tô biển số 52P8-9707; 01 (một) nón bảo hiểm; 01 (một) chiếc xuồng Composite màu xanh dài 4,30m, rộng nhất 84cm; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, loại điện thoại TA-i034.
Trả lại cho bị cáo một điện thoại hiệu Nokia kiểu bàn phím.
Do bị kết án và phải bồi thường thiệt hại, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 5%.
Sau khi giết ông Nh, bị cáo Tr còn có hành vi đẩy chiếc xe mô tô hiệu Suzuki Smash biển kiểm soát 52P8-9707 của ông Nh (đang đậu trên lộ xi măng) xuống sông Giồng Kè (đoạn phía trước nhà bị cáo) với mục đích để che giấu hành vi phạm tội. Sau khi tội phạm được phát hiện trục vớt chiếc xe nói trên và tiến hành định giá. Kết quả định giá chiếc xe bị thiệt hại 870.000 đồng. Do đó, hành vi của Tr không cấu thành tội cố ý làm hư hỏng tài sản, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cà Mau không xử lý là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm n, q khoản 1 Điều 123, Điều 47, điểm b, q, s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 591 của Bộ luật Dân sự; các điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Về trách nhiệm hình sự:
1.1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Tr phạm tội “Giết người”.
1.2. Phạt bị cáo Phạm Văn Tr 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 15 tháng 4 năm 2022.
2. Về trách nhiệm dân sự:
2.1. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Phạm Văn Tr về việc đồng ý bồi thường 232.029.000 (hai trăm ba mươi hai triệu không trăm hai mươi chín nghìn) đồng cho những người đại diện hợp pháp của ông Phạm Văn Nh. Nhưng giao số tiền này cho ông Phạm Văn T là người đại diện theo ủy quyền nhận.
2.2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành theo lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Về xử lý vật chứng:
3.1. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 (một) đoạn cây gỗ dạng hình số “1” có hai nhánh; nhánh dài (dài 2,47m) được chặt nhọn đầu, nhánh ngắn (dài 80cm) được chặt nhọn đầu; đầu cây gỗ có chu vi 21cm bị chặt nham nhở (ký hiệu số 1); 01 (một) đoạn cây gỗ dạng hình số “1” có hai nhánh; nhánh dài (dài 2,02m) được chặt nhọn đầu, nhánh ngắn (dài 67cm) được chặt nham nhở; đầu cây gỗ có chu vi 30cm bị chặt nham nhở, nhọn đầu (ký hiệu số 2); 01 (một) đoạn cây gỗ dạng hình số “1” có hai nhánh; nhánh dài (dài 2,50m) được chặt nhọn đầu, nhánh ngắn (dài 61cm) được chặt nhọn đầu; đầu cây gỗ có chu vi 25,5cm bị chặt nham nhở, nhọn đầu (ký hiệu số 3); 01 (một) đoạn cây gỗ dạng hình số “1” có hai nhánh; nhánh dài (dài 1,90m) được chặt nhọn đầu, nhánh ngắn (dài 64cm) được chặt nhọn đầu; đầu cây gỗ có chu vi 21cm bị chặt nham nhở (ký hiệu số 4); 01 (một) đoạn cây sắt màu đen có ký hiệu “VAS CB3 D14” dài 2,68m được uốn cong, đoạn dài có vết hàn nối; 01 (một) đoạn cây sắt màu đen có ký hiệu “VAS CB3 D14” dài 1,40m được uốn cong; 01 (một) đoạn cây tre dài 1,54m, chu vi 15cm; 01 (một) đoạn cây gỗ dài 1,70m, chu vi 17,5cm, một đầu được chặt nhọn, một đầu chặt nham nhở; 01 (một) đoạn cây gỗ dài 1,75m, chu vi 16cm, một đầu nhọn, một đầu nham nhở; 01 (một) đoạn gỗ dài 1,66m, chu vi 20cm, nhọn một đầu; 01 (một) đoạn cây gỗ có chu vi 21cm bị chặt nham nhở; 01 đoạn cây gỗ chu vi 16cm đầu bị chặt nham nhở; 01 (một) đoạn cây gỗ có chu vi 25cm bị chặt nham nhở; 01 đoạn cây gỗ có chu vi 15cm bị chặt nham nhở; 01 (một) đoạn cây gỗ có chu vi 23cm bị chặt nham nhở; 01 đoạn cây gỗ có chu vi 10cm bị chặt nham nhở; 01 đoạn cây gỗ có chu vi 13cm; 01 (một) đoạn cây gỗ có chu vi 30cm bị chặt nham nhở; 01 đoạn cây gỗ có chu vi 22cm bị chặt nham nhở; 01 (một) áo sơ mi dài tay màu đỏ, nút bóp, có vết rách ở mặt sau cánh tay trái chữ L, kích thước 19cm, 14cm; 01 (một) quần kaki màu xám; 01 (một) chùm chìa khóa; 01 (một) quần silip màu đen, viền màu đỏ; 01 (một) cây rựa dài 74cm, lưỡi bằng kim loại, mũi cong, bề mặt lưỡi bị hoan gỉ, chiều rộng nhất của lưỡi 5,5cm (niêm phong trong túi giấy có ghi ký hiệu V196-22 của Viện Pháp y quốc gia); 01 (một) cây rựa dài 47cm, lưỡi bằng kim loại, mũi cong, bề mặt lưỡi bị hoan rỉ, phần lưỡi dài 28cm, chiều rộng nhất của lưỡi 4,5cm; 02 (hai) thanh kim loại, có cùng kích thước dài 82,5cm, chu vi 8,5cm (dạng rỗng, tròn), được kết nối với nhau bằng ốc vít; 01 (một) túi ni long màu vàng; 01 (một) áo mưa ni long màu trắng, đỏ; 01 (một) đoạn cây gỗ dài 4,78m chu vi lớn nhất 2,7cm, một đầu chặt nhọn; 01 (một) cây búa lưỡi bằng kim loại, tổng chiều dài 46cm, phần lưỡi có kích thước 13,5cm x 8cm; 01 (một) cây gỗ tre dài 2,42m, chu vi lớn nhất 8,5cm; 01 (một) đoạn cây tre (dài 2,50m), chu vi lớn nhất 13cm, chu vi nhỏ nhất 7cm; 01 (một) cái thùng nhựa, màu trắng có quai cầm bằng kim loại (cao 26cm), đường kính miệng thùng 24cm; 01 (một) đoạn cây tre (dài 1,45m), chu vi lớn nhất 10,6cm, chu vi Nh nhất 9,0cm; 01 (một) đoạn cây tre (dài 1,46m), chu vi lớn nhất 8,8cm, chu vi nhỏ nhất 7,4cm; 01 (một) cái nón kết màu xám-đen, có viền đỏ; 01 (một) cây chỉa, có 01 mũi, tổng chiều dài 1,23m, cán bằng gỗ tre dài 0,47m, chu vi 7,50cm, mũi bằng kim loại (mũi nhọn) dài 0,76m; 01 (một) cái quần cụt, bằng vải, màu xanh, đã cũ, dính nhiều vết màu nâu sẫm (niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu PS2 có ghi ký hiệu V196-22 của Viện Pháp y quốc gia. Các vật chứng hiện do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau quản lý (Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17 tháng 11 năm 2022).
3.2. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) chiếc xuồng Composite màu xanh dài 4,68m, rộng nhất 90cm. Vật chứng hiện do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau quản lý (Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17 tháng 11 năm 2022).
3.3. Trả lại cho những người đại diện hợp pháp của ông Phạm Văn Nh (do ông Phạm Văn T đại diện nhận) các vật chứng gồm: 01 (một) xe mô tô biển số 52P8-9707; 01 (một) nón bảo hiểm màu đỏ trên nón có chữ V&S HELMET; 01 (một) chiếc xuồng Composite màu xanh dài 4,30m, rộng nhất 84cm; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, loại điện thoại TA-i034, IMEI1: 354493097043557/ IMEI2: 354495092043557, sim gắn trong điện thoại số 0945024849 (niêm phong trong túi niêm phong có chữ ký của ông Phạm Văn Gi). Các vật chứng hiện do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau quản lý (Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17 tháng 11 năm 2022);
3.4. Trả lại cho bị cáo Phạm Văn Tr 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, kiểu bàn phím, mất nắp lưng, tình trạng hết pin, mở không lên nguồn (niêm phong vào túi niêm phong mã số PS3A-038606). Vật chứng hiện do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau quản lý (Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17 tháng 11 năm 2022).
4. Bị cáo Tr phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 11.601.450 (mười một triệu sáu trăm lẻ một nghìn bốn trăm năm mươi) đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 5%.
5. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKS nd cấp cao tại TP HCM; - VKS nd tỉnh Cà Mau; - Công an tỉnh Cà Mau; - Trại tạm giam Công an tỉnh Cà Mau; - Thi hành án hình sự; - Phòng KTNV&THA TAnd tỉnh Cà Mau; - Cục THA dân sự tỉnh Cà Mau; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ, án văn, Tòa HS, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Trọng Quế |