- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Danh C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/. Xử : Tuyên bố bị cáo Nguyễn Danh C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ- TP. HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2022/HS-ST Ngày: 31/08/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ - TP. HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Xuân Thuật
Ông Lê Văn Hoan
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thúy, Thư ký Tòa án nhân dân huyên Ba Vì, thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Thái Bình - Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 08 năm 2022. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Vì - thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2022/TLST- HS ngày 28 tháng 07 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2022/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 08 năm 2022, đối với bị cáo:
Nguyễn Danh C, sinh năm: 1985; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT: Thôn CQ 3, xã CM, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Trình độ văn hoá: 05/12, Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Danh T1 (đã chết), Con bà: Phương Thị H1 (đã chết); Vợ: Lương Thị T1, sinh năm 1987; Con: Có 2 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 tiền án: Ngày 22/7/2020 TAND huyện Ba Vì xử Nguyễn Danh C 15 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 27/7/2021. Nhân thân: Ngày 03/10/2019 Nguyễn Danh C bị Công an thị xã Sơn Tây xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Bị can đã chấp hành ngày 28/4/2020. Bị cáo hiện đang cai nghiện tự nguyện tại Trại cai nghiện số 7, Xuân Khanh - Sơn Tây. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại:
- Anh Trần Tuấn A, sinh năm 1986 Địa chỉ: Thôn TL, xã TP, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trần Duy H, sinh năm 1980 Địa chỉ: Thôn CQ 3, xã CM, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
- Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1964 Địa chỉ: Thôn CQ 1, xã CM, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
- Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1976 Địa chỉ: Thôn CQ 1, xã CM, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
- Anh Đỗ Đình L, sinh năm 1986 Địa chỉ: Thôn TL, xã TP, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. (Anh Tuấn A, anh H, chị T, anh L và V đều vắng mặt tại phiên tòa )
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hoàng V và Nguyễn Danh C đều là người nghiện ma túy. Do muốn có tiền tiêu sài cá nhân nên V đã rủ C đêm ngày 01/5/2022, rạng sáng ngày 02/5/2022 đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền mua ma túy để sử dụng. C đồng ý.
Khoảng 23 giờ 00 cùng ngày, như đã hẹn, V đi bộ một mình đến nhà C để cùng với C đi trộm cắp tài sản. Sau khi gặp nhau, C lấy từ trong nhà 01 chiếc xe đạp cũ, màu vàng xanh C mượn của anh Trần Duy H là hàng xóm của C vào sáng ngày 01/5/2022, sau đó V điều khiển xe đạp chở C ngồi phía sau đi theo quốc lộ 32 rồi rẽ vào đường liên xã TP đi xã Thụy An với mục đích tìm kiếm nhà dân nào sơ hở sẽ đột nhập vào tìm kiếm tài sản để lấy trộm. Khi đi đến đầu cầu "Đá" thuộc địa phận Khu 2 - TL -TP - Ba Vì, V bảo C xuống xe đứng đợi để V đi lấy công cụ trộm cắp. Sau đó, V một mình đạp xe đến nghĩa trang nhân dân thôn TL, xã TP lấy 01 chiếc kìm cộng lực bằng sắt có chiều dài 90cm, phần tay cầm bọc nhựa màu đen dài 11cm, đường kính tay cầm 03cm do V cất giấu trước đó để làm công cụ đi trộm cắp. Sau khi lấy kìm cộng lực, V quay lại đón C. Tại đây, C và V buộc kìm cộng lực vào sườn xe đạp rồi C điều khiển xe đạp chở V ngồi sau đi trên đường tìm kiếm nhà dân nào sơ hở để trộm cắp tài sản. C điều khiển xe quay lại đi theo hướng Thụy An đi TP. Đi được khoảng 50m, V và C phát hiện nhà anh Đỗ Đình L không có khóa cổng. Thấy vậy, V bảo C dừng xe và đứng chờ, còn V đi bộ một mình đi vào khu vườn trước cửa nhà anh L. Tại đây, V thấy có nhiều giỏ cây hoa phong lan được treo ở trước vườn (số lan này là của anh Trần Tuấn A để nhờ ở vườn nhà anh L), lúc này nhà anh L đã tắt đèn đi ngủ. Quan sát xung quanh không có ai nên V đã lén lút lấy 03 giỏ hoa phong lan rồi đi ra chỗ C đứng đợi. Sau đó, C điều khiển xe đạp chở V rời đi. Khi V và C đi tới đoạn đường rẽ vào thôn Vân Trai - Tây Đằng thì bị tổ tuần tra Đại đội 2 D3 - PK02E CATP Hà Nội phát hiện, kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, đấu tranh tại chỗ V và C đã khai nhận vừa trộm cắp 03 cây hoa phong lan. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bàn giao người và phương tiện cùng vật chứng về CATT Tây Đằng - Ba Vì - Hà Nội tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý theo quy định.
Tang vật thu giữ:
- 01 (một) chiếc kìm cộng lực bằng sắt có chiều dài 90cm, phần tay cầm bọc nhựa màu đen dài 11cm, đường kính tay cầm 3cm.
- 01 (một) chiếc xe đạp màu xanh vàng xanh (đã qua sử dụng).
- 01 (một) giỏ hoa phong lan "quế" gồm 05 thân được gắn vào 01 trụ gỗ, có móc treo bằng sắt hiện đang có hoa.
- 01 (một) giỏ hoa phong lan "đai trâu" gồm 03 thân được gắn vào 01 trụ gỗ, có móc treo bằng sắt.
- 01 (một) giỏ hoa phong lan "cáo" gồm 05 thân được cấy vào giỏ nhựa, có móc treo bằng sắt hiện đang có hoa.
Cơ quan CSĐT đã tiến hành cho Nguyễn Hoàng V và Nguyễn Danh C tự xác định hiện trường các địa điểm, vị trí nơi V lấy kìm cộng lực, vị trí C đứng chờ V và vị trí V lấy trộm 03 giỏ hoa phong lan tại nhà anh Đỗ Đình C. Kết quả: Quá trình xác định hiện trường phù hợp với hiện trường nơi xảy ra vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được.
Cơ quan CSĐT tiến hành cho anh Trần Tuấn A nhận dạng 03 giỏ cây hoa phong lan đã thu giữ được. Kết quả: Anh Tuấn A xác định 03 giỏ hoa phong lan nói trên chính là tài sản anh Tuấn A bị mất ngày 02/5/2022.
Ngày 17/5/2022 Cơ quan CSĐT Công an huyện Ba Vì đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 53 để xác định giá trị của 03 giỏ hoa lan mà Việt và C trộm cắp.
Tại Kết luận định giá tài sản số 57/KL-ĐGTS ngày 01/06/2022 kết luận:
“- 01 (một) giỏ hoa phong lan "quế" gồm 05 thân được gắn vào 01 trụ gỗ, có móc treo bằng sắt, hiện đang có hoa, có tổng chiều dài cả phần thân và phần dễ là 1,5m: 1.000.000 đồng.
- 01 (một) giỏ hoa phong lan "đai châu" gồm 03 thân được gắn vào 01 trụ gỗ, có móc treo bằng sắt, có tổng chiều dài cả phần thân và phần dễ là 1m: 200.000 đồng.
- 01 (một) giỏ hoa phong lan "đuôi cáo" gồm 05 thân được cấy vào giỏ nhựa, có móc treo bằng sắt, hiện đang có hoa, có tổng chiều dài cả phần thân và phần dễ là 1m: 400.000 đồng.
Tổng giá trị là 1.600.000 đồng (Một triệu bốn trăm ngàn đồng chẵn)”
Tại cơ quan CSĐT Công an huyện Ba Vì, Nguyễn Danh C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.
Đối với anh Trần Duy H là người đã cho C mượn xe đạp và Nguyễn Thị T là người cho V mượn kìm cộng lực. Bản thân anh H và chị T không biết việc V và C dùng những đồ vật trên để đi trộm cắp tài sản. Do vậy, cơ quan CSĐT Công an huyện Ba Vì không đề cập xử lý trong vụ án này.
Vật chứng của vụ án:
- Đối với 01 (một) chiếc kìm cộng lực bằng sắt có chiều dài 90cm, phần tay cầm bọc nhựa màu đen dài 11cm, đường kính tay cầm 3cm: Chiếc kìm này là tài sản của gia đình chị Nguyễn Thị T (là chị dâu của Việt). Ngày 01/5/2022, Nguyễn Hoàng V đã mượn chị T chiếc kìm trên. Sau đó V đã giấu chiếc kìm trên tại nghĩa trang thôn Thanh Lũng với mục đích sử dụng để trộm cắp tài sản. Cơ quan CSĐT Công an huyện Ba Vì đã trả lại chiếc kìm cộng lực trên cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị T.
- Đối với 01 (một) chiếc xe đạp màu vàng xanh là phương tiện V và C sử dụng đi trộm cắp tài sản. Qua xác minh, chiếc xe đạp trên là của anh Trần Duy H Ngày 01/5/2022, Nguyễn Danh C đã mượn anh H chiếc xe đạp trên. Sau đó, C đã sử dụng chiếc xe đạp trên làm phương tiện đi trộm cắp tài sản. Cơ quan CSĐT Công an huyện Ba Vì đã trả lại chiếc xe đạp trên cho chủ sở hữu là anh Trần Duy H.
- Đối với 03 giỏ hoa lan gồm:
+ 01 (một) giỏ hoa phong lan "quế" gồm 05 thân được gắn vào 01 trụ gỗ, có móc treo bằng sắt hiện đang hoa.
+ 01 (một) giỏ hoa phong lan "đai trâu" gồm 03 thân được gắn vào 01 trụ gỗ, có móc treo bằng sắt.
+ 01 (một) giỏ hoa phong lan "cáo" gồm 05 thân được cấy vào giỏ nhựa, có móc treo bằng sắt hiện đang hoa.
Các giỏ hoa phong lan trên đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Ba Vì trả lại cho chủ sở hữu là anh Trần Tuấn A để chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về dân sự: Bị hại là anh Trần Tuấn A đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự.
* Bản cáo trạng số: 58/2022/CT-VKSBV ngày 05 tháng 07 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Danh C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS.
Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát Ba Vì đã nêu. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà giữ quyền công tố phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
*Áp dụng điểm b khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Danh C từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Ba Vì, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì đã nêu. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để xác định: Do cần tiền để mua ma túy nên Nguyễn Hoàng V và Nguyễn Danh C đã rủ nhau đi trộm cắp tài sản để lấy tiền mua ma túy. Vào khoảng 23 giờ ngày 01/5/2022, lợi dụng sự sơ hở của gia đình anh Đỗ Đình L không trông coi bảo quản tài sản, Nguyễn Hoàng V và Nguyễn Danh C đã lén lút trộm cắp 03 giỏ lan của anh Trần Tuấn A có giá trị 1.600.000 đồng. Mặc dù tài sản C và Việt trộm cắp có giá trị dưới 2.000.000 đồng; Tuy nhiên bản thân Nguyễn Việt C đã có 01 tiền án, chưa được xóa án tích. Đây là các điều kiện đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Danh C nên Hành vi của bị cáo C đã đủ yếu tố cấu thành tội: Trộm cắp tài sản, theo quy định tại điểm b, Khoản 1, Điều 173 BLHS. Do vậy Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Danh C về tội danh và điều luật trên là có căn cứ đúng pháp luật.
Đối với Nguyễn Hoàng V là người khởi sướng rủ rê C đi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên về nhân thân của V chưa có tiền án, tiền sự, tài sản V trộm cắp dưới 2.000.000 đồng. Do vậy, hành vi của Nguyễn Hoàng V không đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện Ba Vì đã ra quyết định xử phạt hành chính số 10/QĐ-XPHC ngày 04/7/2022 bằng hình thức phạt tiền số tiền 2 500 000đ là đúng pháp luật.
Đối với anh Trần Duy H (là người đã cho C mượn xe đạp) và chị Nguyễn Thị T (là người cho V mượn kìm cộng lực ). Bản thân anh H và chị T không biết V và C dùng những đồ vật trên để đi trộm cắp tài sản. Do vậy, cơ quan CSĐT Công an huyện Ba Vì không đề cập xử lý trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Xét tính chất của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử phải xem xét đánh giá vai trò, tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để có mức án đúng và phù hợp với tính chất cũng như mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Nguyễn Danh C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Xét về nhân thân: Ngày 03/10/2019 Nguyễn Danh C bị Công an thị xã Sơn Tây xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền số tiền là: 1.500.000 đồng về hành vi “trộm cắp tài sản”. Ngày 22/7/2020 bị TAND huyện Ba Vì xử phạt Nguyễn Danh C 15 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”.
Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo C là người có nhân thân xấu; năm 2019 đã bị Công an thị xã Sơn Tây xử phạt Hành chính về hành vi “trộm cắp tài sản”, năm 2020 bị TAND huyện Ba Vì xét xử 15 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cho bản thân nay tiếp tục lại lao vào con đường phạm tội điều đó chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật, liên tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Do vậy cần phải áp dụng Điều 38 BLHS năm 2015 để tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như vậy mới có thể giúp bị cáo nhận ra những sai lầm của mình để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.
Tại khoản 5 điều 173 Bộ luật hình sự còn quy định người phạm tội còn có thể bị phạt bổ sung từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng; Hội đồng xét xử xét thấy tài liệu có trong hồ sơ thì bị cáo C không có công việc ổn định, nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về dân sự: Người bị hại là anh Trần Tuấn A đã nhận lại tài sản 03 giỏ lan nay không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự. Xét đây là sự tự nguyện của đương sự nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) chiếc kìm cộng lực bằng sắt có chiều dài 90cm, phần tay cầm bọc nhựa màu đen dài 11cm, đường kính tay cầm 3cm là của gia đình chị Nguyễn Thị T. Ngày 01/5/2022, chị T đã cho Nguyễn Hoàng V mượn khi cho mượn chị T không biết V và C dùng để đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Ba Vì đã trả lại chiếc kìm cộng lực trên cho chị Nguyễn Thị T. Do vậy Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Đối với 01 (một) chiếc xe đạp màu vàng xanh của anh Trần Duy H đã cho Nguyễn Danh C mượn để làm phương tiện, khi cho mượn anh H không biết V và C dùng để đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Ba Vì đã trả lại chiếc xe đạp trên anh Trần Duy H. Do vậy Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Đối với 03 giỏ hoa lan gồm:
+ 01 (một) giỏ hoa phong lan "quế" gồm 05 thân được gắn vào 01 trụ gỗ, có móc treo bằng sắt hiện đang hoa.
+ 01 (một) giỏ hoa phong lan "đai trâu" gồm 03 thân được gắn vào 01 trụ gỗ, có móc treo bằng sắt.
+ 01 (một) giỏ hoa phong lan "cáo" gồm 05 thân được cấy vào giỏ nhựa, có móc treo bằng sắt hiện đang hoa.
Các giỏ hoa phong lan trên đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Ba Vì trả lại cho chủ sở hữu là anh Trần Tuấn A để chăm sóc, nuôi dưỡng. Do vậy Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/. Xử : Tuyên bố bị cáo Nguyễn Danh C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2/ Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Xử phạt bị cáo Nguyễn Danh C: 09 ( chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
3/ Án phí : Áp dụng các Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;các Điều 23, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
Bị cáo Nguyễn Danh C phải nộp: 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4/. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt Bản án hợp lệ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về những phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt Bản án hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hàn hán hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7 và điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TANDTP. Hà Nội; - VKSND huyện Ba Vì; - Công an huyện Ba Vì; - THADS Ba Vì; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Dung |