vanban.org

Bản án 78/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 13/05/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/05/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Anh H, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Bá T, Hàn Viết N và Nguyễn Đình D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 318; Điểm s; t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Vũ Anh H 24 (Hai bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Anh Huy + ĐP - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Anh H, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Bá T, Hàn Viết N và Nguyễn Đình D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2022/HS-PT
Ngày: 13/5/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Quốc Thành.

Các Thẩm phán: Ông Hà H Hùng.

Bà Lê Thị Thủy.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phạm Trí Đôn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:

Bà Lê Thị Ngọc Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2022/TLPT-HS ngày 28 tháng 02 năm 2022. Do có kháng cáo của các bị cáo Vũ Anh H, Nguyễn Văn H1, Hàn Viết N, Nguyễn Bá T và Nguyễn Đình D đối với bản án hình sự sơ thẩm số 62/2022/HS-ST ngày 18/01/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2021/QĐXXPT-HS ngày 05/4/2022, đối với:

* Các bị cáo có kháng cáo:

1. Vũ Anh H, tên gọi khác: Không - Sinh năm 1997.

Nơi cư trú: SN B phố D, phường Phú Sơn, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ văn Hóa: 07/12; Con ông: Vũ Anh Dũng (đã chết) và con bà: Nguyễn Thị Bình (SN 1963). Vợ: Lê Thị Hằng (SN 1997) và có 01 con (SN 2021). Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 23/8/2019 bị Công an thành phố Thanh Hóa xử phạt hành chính 2.500.000đ về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác” (Chưa nộp phạt).

Tạm giữ; Tạm giam: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (Có mặt)

2. Nguyễn Văn H1, tên gọi khác: Không - Sinh năm 2002.

Nơi cư trú: Phố Cốc Hạ AAA, phường Đ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Nguyễn Văn Đông (SN 1966) và con bà: Phùng Thị Chính (SN 1968). Là con thứ 3 trong gia đình có 3 chị em. Vợ, con: Chưa. Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 01/12/2020 bị Công an thành phố Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính 1.250.000đ về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác”.

Tạm giữ; Tạm giam: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (Có mặt).

3. Họ và tên: Nguyễn Bá T, tên gọi khác: Không - Sinh năm: 2001; Nơi cư trú: SN 46 Ỷ Lan, phường Đông Thọ, TP Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 08/12; Con ông: Nguyễn Bá Kiên (SN 1973) và bà: Đỗ Thị Phương (SN 1973). Là con thứ 2 trong gia đình có 2 chị em. Vợ: Ứng Thị Mai Hương (SN 2002); Con: Chưa;

Tiền án; Tiền sự: Không;

Tạm giữ; Tạm giam: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (Có mặt).

4. Họ và tên: Hàn Viết N, tên gọi khác: Không - Sinh ngày 24/4/2003; Nơi cư trú: SN 59C Trần Xuân Soạn, phường Đông Thọ, TP.Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông: Hàn Viết Hiền (SN 1975) và con bà: Phạm Thị Quỳnh (SN 1979). Là con duy nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa.

Tiền án; Tiền sự: Không.

Tạm giữ; Tạm giam: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (Có mặt).

5. Họ và tên: Nguyễn Đình D, tên gọi khác: Không - Sinh năm 2002;

Nơi cư trú: SN 04/469 Hàm Nghi, phường Đông Hương, TP Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ văn Hóa: 12/12; Con ông: Nguyễn Đình Dụ (SN 1960) và con bà: Trịnh Thị Kết (SN 1970); Là con út trong gia đình có 2 chị em. Vợ, con: Chưa.

Tiền án; Tiền sự: Không.

Tạm giữ; Tạm giam: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (Có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông H1 Quốc Việt, sinh năm 1952 (Không kháng cáo; Vắng mặt).

Nơi cư trú: SN 104 Phạm Vấn, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

* Người làm chứng:

1. Chị Lê Thị Loan, sinh năm 1986. Nơi cư trú: SN 104 Phạm Vấn, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt).

2. Ông Nguyễn Trọng Dưỡng, sinh năm 1951. Nơi cư trú: SN 108 Phạm Vấn, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt).

3. Ông Nguyễn Trọng Hải; sinh năm 1956. Nơi cư trú: SN 96 Phạm Vấn, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt).

4. Ông Nguyễn Văn Sơn; sinh năm 1969. Nơi cư trú: SN 181 Phạm Vấn, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt).

5. Chị Trần Thị Anh; sinh năm 1979. Nơi cư trú: SN 106 Phạm Vấn, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt).

6. Bà Nguyễn Thị Thuấn; sinh 1960. Nơi cư trú: SN 100 Phạm Vấn, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt).

7. Trần Văn CHên; sinh 1981. Nơi cư trú: SN 102 Phạm Vấn, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt).

8. Ông Nguyễn Quang Ngọc - Cán bộ Cảnh sát hình sự - Công an phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng trung tuần tháng 9 năm 2020, theo Vũ Anh H khai, H cho anh Lê Văn Tuân, sinh năm 1993 trú tại thôn Vân Lộ, xã Xuân Hồng, Hện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá vay 2.700.000.000đ với lãi xuất 1000đ/1 triệu. đến tháng 11/2020, H nhiều lần liên lạc với anh Tuân để đòi tiền nhưng không được, qua dò hỏi một số người quen, H biết anh Tuân có chị gái tên là Lê Thị Loan (con dâu ông H1 Quốc Việt trú tại SN 104 Phạm Vấn, phường Đông Vệ) hiện là giáo viên trường THCS An Hưng, phường An Hưng, thành phố Thanh Hoá, nên H đã xúi giục Hàn Viết N, Trần Ngọc Hùng, Nguyễn Bá T, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Đình D và Vũ Minh Chiến (là đàn em của H) đến nhà chị Lê Thị Loan ở SN 104 Phạm Vấn, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa ném chất bẩn gây sức ép với chị Loan để đòi nợ, trong khoảng thời gian từ ngày 03/5/2021 đến ngày 17/5/2021, đồng bọn của H thay phiên nhau nhiều lần ném chất bẩn vào nhà chị Lê Thị Loan ở SN 104 Phạm Vấn, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa. Cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Tối ngày 03/5/2021 Nguyễn Đình D điều khiển xe mô tô hiệu Wave RSX chở Vũ Minh Chiến, Hàn Viết N điều khiển xe mô tô hiệu Future chở Nguyễn Văn H1 xuống phường Đông Vệ, khi đến trước SN 104 Phạm Vấn, Chiến và H1 xuống xe ném chất bẩn vào nhà chị Loan, sau đó Nguyễn Đình D và đồng bọn bỏ về.

Lần thứ 2: Tối ngày 04/5/2021 Nguyễn Bá T điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Văn H1 cầm 02 túi chất bẩn (mắm tôm pha dầu thải) đi xuống nhà chị Loan, đến nơi, T dừng xe, H1 đi bộ đến trước SN 104 Phạm Vấn ném 2 túi chất bẩn vào cửa, sau đó cả hai đi về.

Lần thứ 3: Tối ngày 05/5/2021, Nguyễn Đình D cùng với Nguyễn Văn H1,Trần Ngọc Hùng và Nguyễn Bá T mang chất bẩn đựng trong túi nilon xuống nhà chị Loan, D điều khiển xe chở H1, Hùng chở T , khi đến trước SN 104 Phạm Vấn, phường Đông Vệ, Hùng và H1 cầm các túi đựng chất bẩn ném vào cửa SN 104 Phạm Vấn, sau đó cả nhóm bỏ về.

Lần thứ 4: Khoảng 18h30’ ngày 06/5/2021 Nguyễn Bá T điều khiển xe mô tô hiệu Wave (xe mượn của N) chở Nguyễn Văn H1 đem 02 túi chất bẩn (mắm tôm pha với dầu luyn) xuống nhà chị Loan, đến nơi, H1 ném 02 túi chất bẩn vào nhà chị Loan sau đó đi về.

Lần thứ 5: Tối ngày 07/5/2021, Hàn Viết N điều khiển xe mô tô chở Vũ Minh Chiến mang 02 túi chất bẩn xuống trước SN 104 Phạm Vấn, đến nới N dừng xe đứng chờ còn Chiến cầm 2 túi chất bẩn ném vào nhà chị Loan, sau đó cả hai đi về.

Lần thứ 6: Khoảng 0h30’ ngày 17/5/2021, N cùng với T, H1 và D đi xe mô tô lên phố Triệu Quốc Đạt lấy hai vòng hoa (hoa tang), sau đó đem xuống nhà Chị Loan, đến nơi, N và H1 đem 02 vòng hoa đặt trước cửa SN 104 Phạm Vấn, sau đó cả nhóm bỏ về.

Ngày 19/5/2021, Chi bộ phố Tạnh Xá 1, phường Đông Vệ và UBND phường Đông Vệ, gia đình ông H1 Quốc Việt (bố chồng chị Lê Thị Loan, chủ nhà 104 Phạm Vấn, phường Đông Vệ) và các hộ dân sinh sống quanh khu vực SN 104 Phạm Vấn có đơn và văn bản đề nghị Cơ quan Điều tra xác minh xử lý các đối tượng về hành vi gây mất trật tự, trị an trên địa bàn.

Quá trình điều tra, các đối tượng Vũ Anh H, Vũ Minh Chiến, Nguyễn Đình D, Trần Ngọc Hùng, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Bá T và Hàn Viết N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án: 02 (Hai) vòng hoa tang, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa đã ra Quyết định cHển đến Cơ quan Thi hành án Dân sự dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 53/2022/THA ngày 17 tháng 01 năm 2021 và giữa Công an thành phố Thanh Hóa với Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thanh Hóa.

Bản án Hình sự sơ thẩm số 62/2022/HS-ST ngày 18/01/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã tuyên các bị cáo Vũ Anh H, Nguyễn Văn H1, Hàn Viết N, Nguyễn Bá T, Nguyễn Đình D và các bị cáo khác không kháng cáo phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự (BLHS) đối với các bị cáo Vũ Anh H; Khoản 1 Điều 318; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của BLHS đối với các bị cáo Nguyễn Văn H1; Nguyễn Đình D; Nguyễn Bá T và Hàn Viết N. Khoản 2 Điều 136; Khoản 1, Điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử phạt: Vũ Anh H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, Nguyễn Văn H1 18 (Mười tám) tháng tù, Nguyễn Bá T 15 (Mười lăm) tháng tù, Nguyễn Đình D 12 (Mười hai) tháng tù và Hàn Viết N 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của các bị cáo tính từ ngày bắt thi hành án.

Trong hạn luật định, các bị cáo Vũ Anh H, Nguyễn Văn H1, Hàn Viết N, Nguyễn Bá T, Nguyễn Đình D đều có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung của Bản án sơ thẩm đã tuyên.

Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Thanh Hóa sau khi phân tích tính chất vụ án, nhân thân, hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như tình tiết mới được bổ sung tại phiên tòa đã đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS chấp nhận phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Vũ Anh H và Nguyễn Văn H1, giảm cho bị cáo H từ 09 (Chín) đến 12 (Mười hai) tháng tù và giảm cho bị cáo H1 từ 01 (Một) tháng đến 03 (Ba) tháng tù. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS chấp nhận phần kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo Nguyễn Bá T, Nguyễn Đình D và Hàn Viết N, ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo.

Lời nói sau cùng, các bị cáo nhận thức được lỗi lầm, hứa không vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Xét về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 333 BLTTHS, nên đơn kháng cáo được coi là hợp pháp. Do vậy, HĐXX chấp nhận đơn của các bị cáo để xem xét nội dung kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội cụ thể:

Do Lê Văn Tuân là em trai chị Lê Thị Loan có nợ của Vũ Anh H một khoản tiền, nhưng chưa trả và H không thể liên lạc được với Lê Văn Tuân, nên H đã xúi giục (nhờ) các bị cáo Vũ Minh Chiến, Nguyễn Đình D, Trần Ngọc Hùng, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Bá T và Hàn Viết N ném chất bẩn, đặt vòng hoa vào nhà chị Lê Thị Loan đang sống cùng với gia đình chồng là gia đình ông H1 Quốc Việt tại SN 104 Phạm Vấn, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hoá, mục đích gây sức ép để đòi nợ cho Vũ Anh H. Các bị cáo đều đồng ý thực hiện và thống nhất ai rỗi hôm nào thì tham gia hôm đó. Trong khoảng thời gian từ ngày 03/5/2021 đến ngày 17/5/2021, các bị cáo Vũ Minh Chiến, Nguyễn Đình D, Trần Ngọc Hùng, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Bá T và Hàn Viết N đã thay phiên nhau nhiều lần ném chất bẩn vào SN 104 Phạm Vấn, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hoá.

Lời thừa nhận về hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cấp sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra tại phiên tòa nên hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 318 BLHS. Cấp sơ thẩm đã xác định tội danh và khung hình phạt cho các bị cáo là có căn cứ pháp luật.

Hành vi ném chất bẩn, đặt vòng hoa vào trước cửa số nhà 104 Phạm Vấn, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa của các bị cáo đã gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho gia đình ông H1 Quốc Việt cũng như những hộ dân trong khu phố, phường Đông Vệ. Đồng thời còn trực tiếp xâm phạm đến trật tự an ninh, xã hội nơi công cộng, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Để đảm bảo trật tự xã hội, có tác dụng giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm thì việc truy tố, đưa ra xét xử và buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là cần thiết, cũng là bài học để răn đen và phòng ngừa chung.

Xét kháng cáo xin giảm hình phạt và xin được hưởng án treo của các bị cáo Vũ Anh H, Nguyễn Văn H1, Hàn Viết N, Nguyễn Bá T, Nguyễn Đình D:

Nhận thấy, khi lượng hình cấp sơ thẩm có xem xét, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như: Các bị cáo trong quá trình điều tra, xét xử đều thành đều khẩn khai báo. Đã tích cực tham gia ủng hộ quỹ phòng chống đại dịch Covid-19, được Ủy ban Mặt trật Tổ quốc phường, xã nơi cư trú có thư cảm ơn nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Các bị cáo Nguyễn Văn H1; Nguyễn Đình D, Nguyễn Bá T và Hàn Viết N phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của BLHS. Các tình tiết giảm nhẹ nói trên cấp sơ thẩm áp dụng là phù hợp với quy định của pháp luật. Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tại cấp phúc thẩm các bị cáo đều có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, cụ thể: Sau khi xét xử sơ thẩm và trong quá trình tại ngoại tại địa phương, các bị cáo đều đã nhận thức rõ về hành vi sai phạm của mình, tiếp tục tham gia ủng hộ quỹ phòng chống dịch Covid-19 cũng như các chương trình từ thiện khác được UBMT Tổ quốc cũng như chính quyền địa phương phát động. Hơn nữa các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân là lao động chính. Đều được chính quyền địa phương xác nhận và đề nghị Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương. Do đó các bị cáo được áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS.

Đối với bị cáo Vũ Anh H sau khi phạm tội, đã ăn năn hối cải, nhận thức được lỗi lầm của mình, tích cực tham gia giúp đỡ Cơ quan Công an trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm. Ngày 22/10/2021 Cơ quan CSĐTT Công an Hện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa có xác nhận về việc ghi nhận thành tích của Vũ Anh H đã cung cấp nhiều thông tin có giá trị để Công an Hện Ngọc Lặc bắt, khởi tố hành vi “Giết người” của đối tượng Nguyễn Xuân Trọng, SN 1995 ở Minh Ngọc, Minh Tiến, Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Do vậy cần xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo H theo điểm t khoản 1 Điều 51 của BLHS.

HĐXX nhận thấy tại cấp phúc thẩm, các bị cáo đều có thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, riêng bị cáo H có thêm tình tiết mới quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS, khi Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, điều đó thể hiện sự ăn năn hối cải, hối hận với việc làm của mình. Đối với bị cáo Vũ Anh H và Nguyễn Văn H1 mặc dù không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Song do các bị cáo đều có nhân thân xấu, đã từng bị Công an thành phố Thanh Hóa xử phạt hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác” (Bị cáo H còn chưa nộp phạt hành chính). Hơn nữa Vũ Anh H là người xúi giục các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Văn H1 là người trực tiếp liên hệ, gọi điện cho các bị cáo khác mỗi lần đi ném chất bẩn, đặt vòng hoa và cũng là người chuẩn bị chất bẩn để ném, vậy nên cần cách ly các bị cáo này khỏi đời sống cộng đồng xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và để đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Bị cáo Nguyễn Đình D, Nguyễn Bá T và Hàn Viết N phạm tội do bị các bị cáo khác rủ rê, lôi kéo, đều lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, hành vi của các bị cáo chưa gây tổn hại gì lớn về vật chất, có khả năng tự cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục và răn đe.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông H1 Quốc Việt (Chủ gia đình ngôi nhà các bị cáo ném chất bẩn) vắng mặt nhưng có quan điểm trong hồ sơ vụ án do không thiệt hại gì đáng kể nên không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường về thiệt hại cũng như trách nhiệm dân sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới cũng như nhân thân của các bị cáo. HĐXX xét thấy cần chấp nhận một phần kháng cáo, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho Vũ Anh H và Nguyễn Văn H1 để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình, xã hội.

Đối với các bị cáo Nguyễn Bá T, Nguyễn Đình D và Hàn Viết N không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao các bị cáo này cho chính quyền địa phương, nơi bị cáo cư trú và gia đình có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện để các bị cáo học tập trở thành người có ích cho xã hội. Đồng thời vẫn đảm bảo được tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Do đó cần áp dụng Điều 65 của BLHS, để xem xét cHển hình phạt, cho được hưởng án treo để các bị cáo thấy được tính nhân đạo của Nhà nước và sự khoan hồng của pháp luật, đồng thời cũng nhằm giáo dục, giúp đỡ các bị cáo nhận thức, sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh bản thân mà trở thành người công dân có ích cho xã hội. Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục là phù hợp.

Từ phân tích và nhận định nêu trên, HĐXX nhận thấy, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Vũ Anh H và Nguyễn Văn H1 và kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Đình D, Nguyễn Bá T và Hàn Viết N là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đề nghị HĐXX áp dụng Điều 357 của BLTTHS, chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo, sửa phần hình phạt của Bản án sơ thẩm là có căn cứ pháp luật.

Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị HĐXX không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Vũ Anh H và Nguyễn Văn H1.

Căn cứ: Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận phần kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo Nguyễn Bá T, Nguyễn Đình D và Hàn Viết N. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 62/2022/HS-ST ngày 18/01/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa về phần hình phạt.

Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Anh H, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Bá T, Hàn Viết N và Nguyễn Đình D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 318; Điểm s; t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Anh H 24 (Hai bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 318; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H1 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 318; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bá T 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (13/5/2022).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình D 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai bốn) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (13/5/2022).

Xử phạt: Bị cáo Hàn Viết N 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai bốn) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (13/5/2022).

Giao các bị cáo Nguyễn Bá T và Hàn Viết N cho Ủy ban nhân dân phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa và giao bị cáo Nguyễn Đình D cho Ủy ban nhân dân phường Đông Hương, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Vũ Anh H, Nguyễn Văn H1, Hàn Viết N, Nguyễn Bá T, Nguyễn Đình D không phải chịu án phí hình sự phúc.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ