- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Trần Duy Tùng - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Duy T, sửa Bản án sơ thẩm số 29/2022/HSST ngày 14 tháng 6 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình về phần hình phạt đối với bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:78/2022/HS-PT Ngày: 26 - 8 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Viết Hải
Các Thẩm phán: Ông Võ Bá Lưu và Bà Từ Thị Hải Dương
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mai Ly - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2022, tại phòng xét xử hình sự, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 67/2022/TLPT-HS ngày 22 tháng 7 năm 2022, đối với bị cáo Trần Duy T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2022/HSST ngày 14 tháng 6 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Bình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 528/2022/QĐXXPT-HS ngày 10/8/2022.
Bị cáo kháng cáo: Trần Duy T, sinh ngày 03/02/2002 tại xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm 1, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Trần Duy M (đã chết) và bà Mai Thị H; tiền án; tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19 tháng 01 năm 2022. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Quảng Bình, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án còn có bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng nhưng không có kháng cáo, Bản án sơ thẩm không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập tham gia phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 01/04/2021, Trần Duy T nảy sinh ý định lập các tài khoản “Facebook” giả mạo của người khác để lừa đảo chiếm đoạt tài sản kiếm tiền tiêu xài cá nhân. T sử dụng điện thoại di động cá nhân, truy cập vào mạng xã hội Facebook và tìm kiếm các tài khoản Facebook để giả mạo. Thấy tài khoản Facebook tên “Nguyễn Khánh H” của anh Nguyễn Thanh H, T lấy thông tin cá nhân, hình ảnh từ tài khoản “Nguyễn Khánh H” rồi lập tài khoản Facebook khác cùng tên “Nguyễn Khánh H” và kết bạn với những người quen của anh H. Tiếp đó, T nhắn tin đến Facebook “Phương Ng” của anh Nguyễn Tri Ph. Do thấy hình ảnh và thông tin tài khoản Facebook của anh H là người quen, sống gần nhà mình nên anh Ph đã đồng ý kết bạn và trả lời tin nhắn. Quá trình nhắn tin, T hỏi mượn số tiền12.000.000đ (mười hai triệu đồng) và được anh Ph đồng ý. Sau khi được anh Ph đồng ý cho mượn tiền, T liên hệ với anh Trịnh Quang H hỏi mượn số tài khoản Ngân hàng của anh H để nhận tiền và được anh H đồng ý cho mượn, số tài khoản 3205205322233 của ngân hàng Agribank do anh H đứng tên. T cung cấp số tài khoản của anh H cho anh Ph. Sau đó, anh Ph đã sử dụng dịch vụ chuyển tiền qua điện thoại Banking, chuyển số tiền 12.000.000 đồng từ số tài khoản của mình (số tài khoản 3805215017850 ngân hàng Agribank) đến số tài khoản 3205205322233 ngân hàng Agribank mà Trần Duy T đã gửi đến. Sau khi chuyển tiền xong, anh Ph kiểm tra lại thì biết mình bị người khác lừa đảo chiếm đoạt tài sản và liên hệ với anh Trịnh Quang H để xin lại số tiền trên nhưng không được. Sau khi nhận được tiền, Trần Duy T bảo anh Trịnh Quang H rút số tiền 1.000.000 đồng đưa cho T, còn lại số tiền 11.000.000 đồng, T yêu cầu H chuyển đến số tài khoản 3205205385778 ngân hàng Agribank của Trần Duy T, số tiền này T rút ra tiêu xài cá nhân hết.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuyên Hoá đã thu giữ: 01(một) đĩa CD-R80MQ, màu vàng đặt trong tấm lót đĩa màu xanh được đựng trong 01 (một) phong bì giấy dán kín, niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình; 01(một) điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 7 PLUS, màu vàng, số IMEI: 359219071616125, bên trong có gắn thẻ sim số 0328615319, điện thoại đã qua sử dụng (thu giữ của Trịnh Quang H); 01(một) điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 13 PROMAX, màu xám, số IMEI 1: 358863669468737, số IMEI 2: 358863669170887, bên trong có gắn thẻ sim số: 0344444876, điện thoại đã qua sử dụng (thu giữ của Trần Duy T); 01(một) thẻ ATM ngân hàng AGRIBANK, số 9704053059982958 mang tên Trần Duy Tùng; 01(một) thẻ ATM ngân hàng AGRIBANK, số 9704050813161762, mang tên Trịnh Quang H; 01(một) thẻ ATM ngân hàng TECHCOMBANK, số 4221498692896450, mang tên Trịnh Quang H.
Đối với điện thoại Iphone 11, màu đỏ là công cụ phương tiện phạm tội mà bị cáo T dùng để đăng ký tài khoản Facebook giả mạo, liên hệ với anh H mượn tài khoản ngân hàng, thông báo việc nhận tiền tuy nhiên bị cáo đã bán cho một người đàn ông không rõ địa chỉ tại Hà Nội vào cuối năm 2021, cơ quan Điều tra không có cơ sở truy tìm, thu giữ.
Về dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Trần Duy T đã tự nguyện bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Tri Ph số tiền 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng), đây là số tiền do T lừa đảo chiếm đoạt của anh Ph. Anh Nguyễn Tri Ph đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số: 24/CT-VKSTH-HS ngày 29 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Trần Duy T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Bản án Hình sự sơ thẩm số 29/2022/HS-ST ngày 14/6/2022 của Toà án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình đã Quyết định. Tuyên bố bị cáo Trần Duy T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 174; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo Trần Duy T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (19/01/2022).
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm, quyền kháng cáo của bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
Ngày 27/6/2022, bị cáo Trần Duy T có đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Trần Duy T khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng và quyết định của Bản án sơ thẩm, giữ nguyên kháng cáo xin được giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Bản án sơ thẩm đã tuyên bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và xử phạt bị cáo 12 tháng tù là đúng người, đúng tội và phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết gảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm tài liệu chúng cứ gia đình bị cáo là người có công với cách mạng, bị cáo là lao động chính, bố mất sớm phải sống với mẹ, nên có hoàn cảnh khóa khăn. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 03 đến 04 tháng tù. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Điều 355 và 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Duy T để sửa Bản án sơ thẩm. Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Ngày 27/6/2022, bị cáo nộp đơn kháng cáo. Đơn kháng cáo của bị cáo đảm bảo về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức và nội dung kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, đúng như nội dung Cáo trạng và Bản án sơ thẩm đã quyết định. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, vật chứng thu giữ, cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận. Ngày 01/4/2021, bị cáo Trần Duy T bằng thủ đoạn gian dối lấy thông tin cá nhân, hình ảnh từ tài khoản “Nguyễn Khánh H” lập tài khoản Facebook khác cùng tên “Nguyễn Khánh H” rồi nhắn tin kết bạn với tài khoản Facebook “Phương Ng” của anh Nguyễn Tri Ph hỏi mượn tiền, làm cho anh Ph tin tưởng đó là anh H, nên đã sử dụng dịch vụ chuyển tiền qua điện thoại chuyển tiền đến số tài khoản mà bị cáo mượn của anh Trịnh Quang H. Sau khi nhận được tiền anh Ph chuyển đến số tài khoản của anh H. Bị cáo bảo anh H rút số tiền 1.000.000 đồng đưa cho bị cáo, số tiền 11.000.000 đồng còn lại bị cáo yêu cầu anh H chuyển đến số tài khoản của bị cáo và bị cáo rút ra tiêu xài cá nhân hết. Tổng số tiền mà bị cáo chiếm đoạt là 12.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ và còn xâm hại đến trật tự an toàn trên không gian mạng. Vì vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo Trần Duy T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự, là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Duy T, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, nên Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo 12 tháng tù là có phần nghiêm khắc so với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo. Tại phiên tòa hôm nay, gia đình bị cáo xuất trình thêm giấy xác nhận của chính quyền địa phương bị cáo là lao động chính, bố mất sớm phải sống cùng mẹ, nên hoàn cảnh gia đình khó khăn; ông nội, cụ nội của bị cáo là người có công với cách mạng, nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa để bị cáo thấy được chính sách khoản hồng của pháp luật Nhà nước ta mà tự giác cải tạo, giáo dục bản thân sớm hòa nhập cộng đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Duy Tùng, sửa Bản án sơ thẩm số 29/2022/HS-ST ngày 14/6/2022 của Toà án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình về phần hình phạt đối với bị cáo.
Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 174; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự; điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Duy T, sửa Bản án sơ thẩm số 29/2022/HSST ngày 14 tháng 6 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình về phần hình phạt đối với bị cáo.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Duy T 09 (Chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 19/01/2022.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Duy T với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (26/8/2022) để đảm bảo thi hành án, theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Duy T không phải chịu.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 26/8/2022.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - Vụ giám đốc kiển tra 1 TANDTC; - TANDCC tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Quảng Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình; - Tòa án huyện Tuyên Hóa; - VKSND huyện Tuyên Hóa; - Công an huyện Tuyên Hóa; - Chi cục THADS huyện Tuyên Hóa; - Bị cáo; - Lưu VP; HSVA. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Viết Hải |