vanban.org

Bản án 78/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015

Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Yến N được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng S. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THỦY
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2022/HNGĐ-ST
Ngày 09/9/2022.
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Huỳnh Thị Lài.

2/ Bà Nguyễn Ngọc Diễm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Thạch Thị Thi – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thủy.

Ngày 09 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án thụ lý số 151/2022/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 490/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Yến N, sinh năm 1996.

Địa chỉ: A3, BPT, MH, LA.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1992.

Địa chỉ: CK, BHN, BT, CT.

Bà N có đơn xin xét xử vắng mặt, ông S vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 25/7/2022 nguyên đơn là bà Lê Thị Yến N trình bày:

Bà và ông Nguyễn Hoàng S qua tìm hiểu và tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BPT, huyện MH, tỉnh LA vào ngày 03/3/2017. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc sau đó thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, thường xuyên xảy ra cãi vã, không có tiếng nói chung, ông S không quan tâm chăm sóc vợ con. Nhận thấy, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể tiếp tục. Nay, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng S.

- Về con chung: Bà và ông S có một con chung tên Nguyễn Đăng K (nam), sinh ngày 24/8/2017. Khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai ngày 10/8/2022 bị đơn là ông Nguyễn Hoàng S trình bày:

Ông và bà Lê Thị Yến N qua tìm hiểu và tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình Phong Thạnh, huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An vào ngày 03/3/2017. Thời gian đầu chung sống bình thường, đến ngày gần sinh em bé thì bà N xin về quê sinh con, do bận công việc nên ông ít về quê thăm vợ con nên bà N nghĩ rằng ông ít quan tâm chăm sóc vợ con. Ông cho rằng còn thương vợ nên không muốn ly hôn mong muốn được hàn gắn với bà N.

- Về con chung: Ông và bà N có một con chung tên Nguyễn Đăng K (nam), sinh ngày 24/8/2017. Nếu ly hôn, ông đồng ý để bà N tiếp tục nuôi con, ông cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, bà Lê Thị Yến N có đơn xin xét xử vắng mặt do bà sinh sống tại Long An và hiện đang đi làm tại Bình Dương, bà vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày trong đơn khởi kiện và bản tự khai.

Phía ông Nguyễn Hoàng S đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện của bà Lê Thị Yến N đề ngày 25/7/2022 yêu cầu xin ly hôn với ông Nguyễn Hoàng S, yêu cầu nuôi con chung nên đây là vụ án ly hôn, nuôi con giữa công dân với công dân thuộc ngành Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh. Do ông Nguyễn Hoàng S có địa chỉ cư trú tại CK, BHN, BT, CT nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn bà Lê Thị Yến N xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Hoàng S vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Xét về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Yến N và ông Nguyễn Hoàng S tự nguyện tiến tới quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn hợp pháp vào ngày 03/3/2017 tại Ủy ban nhân dân xã BPT, huyện MH, tỉnh LA nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Theo bà N khai tại đơn khởi kiện và bản tự khai thì bà và ông S chung sống hạnh phúc thời gian đầu, sau đó thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, thường xuyên xảy ra cãi vã, không có tiếng nói chung, ông S không quan tâm chăm sóc vợ con. Nay, bà N cho rằng không còn tình cảm với ông S, mục đích hôn nhân của ông bà không đạt được nên bà có đơn xin ly hôn. Phía ông S cho rằng còn thương vợ con nhưng tại bản tự khai ngày 10/8/2022, ông cho rằng bận việc nên ít quan tâm chăm sóc vợ con. Trong thời gian bà N về nhà cha mẹ ruột từ năm 2018 đến nay ông không đến thăm hỏi, chăm nom vợ con. Điều đó cho thấy, thực tế ông S không quan tâm chăm sóc bà N và con. Tòa án đã triệu tập hợp lệ 02 lần để đưa vụ án ra xét xử nhưng ông S vẫn không đến tham gia phiên tòa cho thấy ông S cũng không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân này nữa. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N.

Về con chung: Tại bản tự khai của bà N ngày 25/7/2022 và bản tự khai ngày 10/8/2022 của ông S, thì bà N và ông S đều khai thống nhất ông bà có một con chung tên Nguyễn Đăng K (nam), sinh ngày 24/8/2017. Khi ly hôn, bà N yêu cầu được nuôi con chung, ông S cũng thống nhất giao con chung cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng bà N không yêu cầu nhưng ông S tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng. Xét đây là sự tự nguyện của đương sự và có lợi cho cháu K nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông S không ai được quyền ngăn cản ông S thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con, cha mẹ có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà N và ông S đều khai nhận không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39, Điều 147, 227, 228, 273 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Điều 51,56, 69,71,81,82,83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015

Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Yến N được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng S.

- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Đăng K (nam), sinh ngày 24/8/2017 cho bà Lê Thị Yến N tiếp tục nuôi dưỡng. Ông S cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng). Thời gian cấp dưỡng từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông S, không ai được quyền cản trở ông S thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con, cha mẹ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu giải quyết.

- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn bà Lê Thị Yến N phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng). Chuyển tiền đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002611 ngày 25/7/2022 thành án phí hôn nhân sơ thẩm. Về án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng ông Nguyễn Hoàng S phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy.

Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

*Nơi nhận:

Cỡ chữ