vanban.org

Bản án 78/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng : Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a, b khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự .

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị P : Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng : Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a, b khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự .
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

HUYỆN LỘC NINH
TỈNH BÌNH PHƯỚC
Số: 78/2022/HNGĐ – ST
Ngày: 12/12/2022
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH – TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Thi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Đức Thọ

2. Bà Nguyễn Thị Hương

- Thư ký phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Lành – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Như Mai Trang - Chức vụ Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 221/2022/TLST-HNGĐ ngày 12/10/2022. Về tranh chấp “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2022 giữa :

Nguyên đơn: Bà Đặng Thị P, sinh năm 1985 (Có mặt) Địa chỉ : Ấp Hiệp Quyết, xã Lộc Hiệp, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước

Bị đơn: Ông Phạm Ngọc Q, sinh năm 1983 (Có mặt) Địa chỉ : Ấp Hiệp Quyết, xã Lộc Hiệp, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 8 năm 2022, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đặng Thị P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị P và ông Phạm Ngọc Q chung sống với nhau từ năm 2006 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lộc Hiệp, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình phước. Trước khi chung sống với ông Q chúng tôi quen nhau thời gian khoảng sáu tháng . Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 04 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng bất đồng quan điểm, không hiểu nhau. Hiện nay vợ chồng sống ly thân từ tháng 4 năm 2022 cho đến nay, tôi không thể chung sống với ông Q được nữa nên làm đơn xin ly hôn với ông Q .

- Về con chung : Vợ chồng có 02 con chung cháu Phạm Văn Nhân, sinh ngày 08/5/2006, cháu Phạm Văn Trọng, sinh ngày 28/7/2011, hiện nay hai cháu đang sống chung với anh Q tại ấp Hiệp Quyết, xã Lộc Hiệp, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước, khi ly hôn tôi tự nguyện nhận nuôi hai cháu không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.

Ngoài ra vợ chồng không nhận ai làm con nuôi, hiện nay tôi không có thai .

- Về tài sản : Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ : Hiện nay vợ chồng không nợ ai, và vợ chồng cũng không cho ai vay nợ.

Bị đơn ông Phạm Ngọc Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân : Tôi và cô P tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2006 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lộc Hiệp, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

Trước khi chung sống với cô P chúng tôi quen nhau thời gian khoảng một năm. Vợ chồng chung sống vẫn có hạnh phúc đến khoảng cuối năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ tôi đi làm công nhân ở huyện Chơn Thành nên vợ chồng xa nhau, thỉnh thoảng vợ mới về nhà, tôi điện thoại vợ không nghe máy, hiện nay tôi vẫn còn thương vợ con, nên tôi không muốn ly hôn.

- Về con chung : Vợ chồng có 02 con chung cháu Phạm Văn Nhân, sinh ngày 08/5/2006, cháu Phạm Văn Trọng, sinh ngày 28/7/2011.

Ngoài ra vợ chồng không nhận ai làm con nuôi, hiện nay cô P không có thai .

- Về tài sản : Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ : Hiện nay vợ chồng không nợ ai, và vợ chồng cũng không cho ai vay nợ.

Nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn thì tôi nhận nuôi hai cháu không yêu cầu cô P cấp dưỡng nuôi con.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh phát biểu ý kiến:

Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thực hiện thủ tục cấp tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, thành phần tham gia xét xử được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh không có kiến nghị gì về tố tụng.

- Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị P .

- Về hôn nhân: Cho Đặng Thị P được ly hôn với Phạm Ngọc Q .

- Về con chung: Giao hai cháu Phạm Văn Nhân, sinh ngày 08/5/2006, cháu Phạm Văn Trọng, sinh ngày 28/7/2011 cho bà P chăm sóc, nuôi dưỡng, bà P không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

Về pháp luật tố tụng: Bà Đặng Thị P có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Ngọc Q, ông Q có hộ khẩu tại ấp Hiệp quyết, xã Lộc Hiệp, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình phước nên Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh giải quyết theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Hội đồng xét xử xét thấy thời gian chung sống giữa bà Đặng Thị P và ông Phạm Ngọc Q có thời gian chung sống từ năm 2006, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lộc Hiệp, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình phước.

Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, thường cãi nhau làm cho gia đình không còn hạnh phúc. Quá trình giải quyết vụ án bà Đặng Thị P cho rằng vợ chồng mâu thuẫn xảy ra là do một phần gia đình bên chồng, khi biết được sự việc thì ông Q không bảo vệ bà, tại phiên tòa bà P cho rằng ông Q hay nhậu về thường xuyên là mắng bà cho nên vợ chồng sống không có tình cảm, hiện nay vợ chồng đã ly thân từ tháng 04/2022, tại phiên tòa bà P cương quyết xin ly hôn với ông Q, tại biên bản lấy lời khai ông Q trình bày hiện nay vợ chồng sống vẫn còn tình cảm nhưng do hiện nay bà P đi làm công nhân thỉnh thoảng mới về nhà, ông có điện thoại nhưng bà P không nghe máy, nếu có nghe máy thì hai người chỉ nói được mấy câu là tắt máy, nên ông không có cơ hội để nói chuyện với bà P, tại phiên tòa ông mong bà P bỏ qua tất cả những gì đã xảy ra để vợ chồng về làm ăn lo cho con cái học hành sau này .

Hội đồng xét xử nhận định; Bà Đặng Thị P và ông Phạm Ngọc Q có thời gian chung sống từ năm 2006, trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, mức độ mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng đã ly thân suốt thời gian dài mà không hàn gắn được với nhau, tại phiên tòa bà P nhất quyết xin được ly hôn với ông Q.

Đối với ông Q mặc dù vẫn còn tình cảm với bà P nhưng bản thân ông cũng không thuyết phục được bà P để vợ chồng quay về đoàn tụ, hơn nữa ông không nhờ gia đình hoặc bà con thân thích tác động bà P, hiện nay vợ chồng sống ly thân trong thời gian dài . Xét thấy tình cảm vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được.

Căn cứ vào Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định cho bà Đặng Thị P được ly hôn với ông Phạm Ngọc Q .

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung cháu Phạm Văn Nhân, sinh ngày 08/5/2006, cháu Phạm Văn Trọng, sinh ngày 28/7/2011.

Xét nguyện vọng của cháu Nhân và cháu Trọng đề có nguyện vọng ở với mẹ, nên cần giao cháu Nhân và cháu Trọng cho bà P chăm sóc, nuôi dưỡng, bà P không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có .

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh phù hợp với nhận xét của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Nguyên đơn bà Đặng Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, như vậy bà Đặng Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm .

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng : Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a, b khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự .

- Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị P :

- Bà Đặng Thị P được ly hôn với ông Phạm Ngọc Q .

2. Về con chung : Giao cháu cháu Phạm Văn Nhân, sinh ngày 08/5/2006, cháu Phạm Văn Trọng, sinh ngày 28/7/2011 cho bà P chăm sóc, nuôi dưỡng, bà P không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con, có quyền nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con .

3. Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ : Không có .

5. Về án phí: Bà Đặng Thị P phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh theo biên lai thu tiền số 0010017 ngày 12/10/2022.

6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ