- Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Mai Thanh S.
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Đất đai; Điều 100 Luật Đất đai; Điều 116 Luật Tố tụng Hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2022/HC-ST Ngày: 20-7-2022 “V/v: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Lương Minh Trí
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Quang Diệu
Ông Võ Văn Thới
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Vệ - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An: Bà Nguyễn Thị Duyên
- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thụ lý số 38/2022/TLST-HC ngày 21 tháng 2 năm 2022 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2022/QĐXXST-HC ngày 05 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Ông Mai Thanh S, sinh năm 1959;
Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1973. Địa chỉ: 63D Quốc lộ 50, khu 1B, huyện C, tỉnh Long An.
Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đào Hữu T - Phó Chủ tịch;
Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Hồ Hoàng H - Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1972; Địa chỉ: Ấp 7, xã T, huyện, tỉnh Long An.
(Ông T, bà H có mặt; ông T, ông H có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án có nội dung như sau:
Ông Mai Thanh S yêu cầu Tòa án Long An: Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 396133 của Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị H ngày 17/7/2013 (ngày 14/10/2020 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C chỉnh lý đổi tên bà Nguyễn Thị H thành bà Nguyễn Thị Kim H) đối với thửa đất số 789, tờ bản đồ số 3, diện tích 3.614m2, loại đất: chuyên trồng lúa, tại ấp 7, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Lý do: Năm 1995 ông S có mua của ông Lâm Bá K một phần thửa đất số 789, tờ bản đồ số 03, diệc tích 1.200m2, loại đất lúa, tọa lạc tại ấp 7, xã T, huyện C, tỉnh Long An. Ngày 13/2/1995 ông S có làm đơn xin sang nhượng đất canh tác có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C. Ông S đã san lắp mặt bằng, xây dựng nhà ở ổn định lâu dài, không ai tranh chấp. Sau đó, ông Lâm Bá K tiếp tục bán phần đất còn lại của thửa đất số 789 cho bà Nguyễn Thị H (nay đã đổi tên là bà Nguyễn Thị Kim H), có cắm cột mốc, ranh giới rõ ràng. Tuy nhiên, đến tháng 4/2021 ông Mai Thanh S kiểm tra lại thì phát hiện Ủy ban nhân dân huyện C đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 396133 ngày 17/7/2013 cho bà Nguyễn Thị Kim H trọn thửa đất số 789, tờ bản đồ số 03, diện tích 3.614m2, trong đó có một phần diện tích thửa đất số 789 của ông S. Do đó, ông S đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 396133 đối với thửa đất số 789 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị Kim H để ông được đăng ký cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đúng vị trí và diện tích thực tế.
Tại Công văn số 3215/UBND-TD ngày 25/5/2022 người bị kiện UBND huyện C có nội dung trình bày như sau:
Qua xem xét nội dung báo cáo của Phòng Tài nguyên và Môi trường tại văn bản số 2335/TNMT-PC ngày 10/5/2022, Ủy ban nhân dân huyện C nêu chính kiến và cung cấp thông tin đến Tòa án nhân dân tỉnh Long An như sau:
Hiện tại, hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 396133 do Ủy ban nhân dân huyện Cần Đước cấp ngày 17/7/2013 cho bà Nguyễn Thị Kim H đối với thửa 789, tờ bản đồ số 03, diện tích 3.614m2 đã bị thất lạc (Theo văn bản số 2391/CN.VPĐKĐĐ-KTLT ngày 28/4/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C), Ủy ban nhân dân huyện C không có cơ sở nêu chính kiến gửi đến Tòa án theo quy định.
Việc người khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 396133 của Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị Kim H ngày 17/7/2013 đối với thửa đất số 789, tờ bản đồ số 3, diện tích 3.614m2, loại đất: chuyên trồng lúa, tại Ấp 7, xã T, huyện C, tỉnh Long An. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim H trình bày: Qua yêu cầu khởi kiện của ông S bà đồng ý hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà để cấp lại cho đúng vị trí, diện tích 02 bên sử dụng. Chi phí làm giấy tờ đề nghị ông S chịu.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo qui định của Luật Tố tụng Hành chính.
Về nội dung: Qua lời trình bày của các đương sự trước tòa và nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ thấy rằng ông S đang quản lý, sử dụng một phần thửa đất 789, tờ bản đồ số 3, diện tích khoản 1.200m2 tại ấp 7, xã T, huyện C, nhưng Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Kim H toàn bộ thửa đất 789 là không đúng vị trí, diện tích, đối tượng sử dụng đất, do đó đơn khởi kiện của ông S là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông S, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP396133 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà H ngày 17/7/2013.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng và ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Mai Thanh S yêu cầu Tòa án Long An hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 396133 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị C ngày 17/7/2013 (ngày 14/10/2020 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C chỉnh lý đổi tên bà Nguyễn Thị C thành bà Nguyễn Thị Kim C) đối với thửa đất số 789, tờ bản đồ số 3, diện tích khoảng 1.200m2, loại đất: chuyên trồng lúa, tại ấp 7, xã T, huyện C, tỉnh Long An. Đây khiếu kiện các quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng Hành chính.
Về thời hiệu khởi kiện: Tháng 4/2021 ông Mai Thanh S kiểm tra lại thì phát hiện một phần diện tích khoảng 1.200m2 ông đang sử dụng thuộc thửa đất số 789 bà H được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Do đó, ngày 29/11/2021 ông S nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý giải quyết là trong thời hiệu, đúng qui định tại Điều 116 của Luật Tố tụng Hành chính.
Về việc tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và đối thoại: Tòa án đã có thông báo cho các đương sự nhưng người bị kiện có đơn vắng mặt, người khởi kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan yêu cầu không đối thoại, nên Tòa án lập biên bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản không tiến hành đối thoại được theo quy định của Điều 135, 137 Luật Tố tụng Hành chính.
Người đại diện của người bị kiện ông Đào Hữu T, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ông Hồ Hoàng H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 158 Luật Tố tụng Hành chính Tòa án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử vắng mặt ông T, ông H là phù hợp.
Về hình thức và thẩm quyền ban hành quyết định: Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 396133 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 17/7/2013 cho bà Nguyễn Thị Kim H đối với thửa 789, tờ bản đồ số 03, diện tích 3.614m2 đã bị thất lạc, nên Tòa án nhân dân tỉnh Long An không thể xem xét hình thức, thẩm quyền, trình tự thủ tục ban hành quyết định theo quy định của Luật Đất đai năm 2013.
Về nội dung của quyết định hành chính: Thửa 789, tờ bản đồ số 03 tọa lạc tại ấp 7, xã T, huyện C, tỉnh Long An có 03 căn nhà ông Mai Thanh S đang quản lý sử dụng khoảng 1.200m2, không ai tranh chấp, nhưng trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C cấp toàn bộ thửa 789 cho bà Nguyễn Thị Kim H, nội dung này được chứng minh qua lời trình bày của ông T đại diện cho ông S, bà H tại phiên tòa, biên bản xem xét thẩm định tại chổ của Tòa án nhân dân tỉnh Long An ngày 17/3/2022.
Như vậy, có cơ sở xác định Ủy ban nhân dân huyện Cần Đước đã cấp quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Kim H đối với thửa 789, tờ bản đồ số 03 tọa lạc tại ấp 7, xã T, huyện C cùng ngày 17/7/2013 là không đúng vị trí sử, diện tích, đối tượng dụng đất, là trái với quy định tại Điều 5, Điều 10, Điều 98, Điều 99, Điều 100 Luật Đất đai năm 2013. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông Mai Thanh S là có căn cứ nên được chấp nhận, như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tại phiên tòa.
Về chi phí tố tụng và án phí:
Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.600.000 đồng. Ông Sang đã nộp và tự nguyện chịu toàn bộ chi phí này nên ghi nhận là phù theo khoản 1 Điều 357, 358 Luật Tố tụng Hành chính.
Về án phí: Ông Mai Thanh S không phải chịu án phí. Ủy ban nhân dân huyện Cần Đước phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của Điều 348 Luật Tố tụng Hành chính và Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193; Điều 116, Điều 158, Điều 348, Điều 357, Điều 358 Luật Tố tụng Hành chính;
Căn cứ Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội .
Áp dụng Điều 5, Điều 10, Điều 98, Điều 99, Điều 100 Luật Đất đai năm 2013;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Mai Thanh S.
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 396133 của Ủy ban nhân dân huyện Cần Đước cấp cho bà Nguyễn Thị S ngày 17/7/2013 (ngày 14/10/2020 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C chỉnh lý đổi tên bà Nguyễn Thị H thành bà Nguyễn Thị Kim H) đối với thửa đất số 789, tờ bản đồ số 3, loại đất: chuyên trồng lúa, tại ấp 7, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
2. Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Mai Thanh S chịu 2.600.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ (đã nộp xong).
3. Về án phí: Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An phải nộp 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Long An; - Cục THADS tỉnh Long An; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Minh Trí |