- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng hụi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Lệ Th (7 Th) đối với bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn T;
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 78/2022/DS-ST Ngày: 22/8/2022 “V/v Tranh chấp Hợp đồng góp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Ly;
2. Bà Hoàng Thị Thiện Lai.
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Bá Thi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Lợi – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 161/2022/TLST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2022 về việc “Tranh chấp Hợp đồng góp hụi”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 380/2022/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 356/2022/QĐST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Lệ Th (7 Th), sinh năm 1954; địa chỉ: số nhà 31/8, Tổ 15, ấp T, xã TM, huyện CM, tỉnh An Giang; có mặt.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1965; địa chỉ: ấp TQ, xã TM, huyện CM, tỉnh An Giang; vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1966; địa chỉ: ấp TQ, xã TM, huyện CM, tỉnh An Giang; vắng mặt (do có ý kiến đề nghị vắng mặt tại văn bản ghi nhận lời khai ngày 02/6/2022).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lê Th trình bày, Bà Nguyễn Thị Lệ Th có tham gia chơi hụi do bà Nguyễn Thị Đ làm chủ, cụ thể:
- Dây hụi thứ I, hụi 2.000.000 khởi khui ngày 28/01/2019 âm lịch, có 28 hụi viên, bà Th tham gia 02 chân, đã hốt 01 chân (hụi chết), nay không yêu cầu, còn chưa hốt 01 chân hụi sống; chầu được 27 lần hụi sống, là tôi được hốt nhưng bà Đ không thực hiện thanh toán hụi cho tôi, hụi này đã mảng, đến ngày 28/3/2021 thì bà Đ kêu vỡ hụi, nên tôi chưa hốt hụi, có phiếu hụi ghi ngày 28/01/2019al. Tổng số tiền tôi chưa thực hiện hốt hụi, là 52.000.000đồng.
- Dây hụi thứ II, hụi 1000.000 đồng khởi khui ngày 15/6/2019 âm lịch, có 26 hụi viên, bà Th tham gia 02 chân và chầu được 24 lần hụi sống, hụi này tôi hốt chót, đến ngày 28/3/2021 thì bà Đ kêu vỡ hụi, nên không trả tiền hụi cho tôi số tiền là 48.000.000đồng.
- Dây hụi thứ III, hụi 2000.000 đồng khởi khui ngày 20/7/2020 âm lịch, có 24 hụi viên, bà Hậu tham gia 01 chân và chầu được 9 lần hụi sống, hụi này chưa mảng, đến ngày 28/3/2021 thì bà Đ kêu vỡ hụi, nên tôi chưa hốt hụi; số tiền đã chầu của 01 chân hụi là 13.380.000đồng, lời của chân hụi là 4.710.000đồng.
- Dây hụi thứ IV, hụi 2000.000 đồng khởi khui ngày 20/7/2020 âm lịch, có 23 hụi viên, bà Th tham gia 01 chân và chầu được 09 lần hụi sống, hụi này chưa mảng, đến ngày 28/3/2021 thì bà Đ kêu vỡ hụi, nên tôi chưa hốt hụi; số tiền đã chầu của 01 chân hụi là 13.290.000đồng, lời của chân hụi là 4.710.000đồng. Quá trình giải quyết vụ án, bà Th xác định lại nội dung yêu cầu, theo đó còn yêu cầu bà Đ và ông T phải liên đới thanh toán số tiền hụi còn nợ số là 106.960.000đồng; do bà Đ đã thanh toán được số tiền là 2.000.000đồng, nên bà Đ, ông T phải liên đới trả số tiền là 104.960.000đồng; tại đơn khởi kiện tôi yêu cầu khởi kiện là 136.000.000đ, nay bà Th rút lại 01 phần yêu cầu khởi kiện với số tiền là 31.040.000đồng; chỉ yêu cầu bà Đ và ông T liên đới thanh toán số tiền là 104.960.000đồng và không yêu cầu tính lãi, không đồng ý để bà Đ thanh toán dần hàng tháng với số tiền 500.000đồng/tháng. Bị đơn, bà Nguyễn Thị Đ trình bày, bà có làm chủ hụi, trong đó bà Nguyễn Thị Lệ Th (7 Th) là hụi viên tại các dây hụi, cụ thể:
- Dây hụi thứ I hụi 2.000.000 khởi khui ngày 20/7/2020 âm lịch, có 23 hụi viên, bà Th (7 Th) tham gia mỗi dây là 01 chân hụi chầu được 09 lần (09 tháng) hụi sống, hụi này chưa mảng, đến ngày 28/3/2021 âm lịch thì tôi vỡ hụi, nên bà Th chưa hốt hụi; số tiền vốn bà Th đã chầu tại dây hụi này là 13.020.000đồng, tiền lời là 4.980.000đồng.
- Dây hụi thứ II hụi 2.000.000 khởi khui ngày 20/7/2020 âm lịch, có 24 hụi viên, bà Th (7 Th) tham gia mỗi dây là 01 chân hụi chầu được 09 lần (09 tháng) hụi sống, hụi này chưa mảng, đến ngày 28/3/2021 âm lịch thì tôi vỡ hụi, nên bà Th chưa hốt hụi; số tiền vốn bà Th đã chầu tại dây hụi này là 13.140.000đồng, tiền lời là 4.860.000đồng.
- Dây hụi thứ III hụi 2.000.000 khởi khui ngày 28/7/2020 âm lịch, có 28 hụi viên, bà Th tham gia 04 chân hụi, đã hốt 03 chân, còn 01 chân hụi sống, bà Th đã chầu được 27 lần (27 tháng) hụi sống, hụi này chưa mảng, đến ngày 28/3/2021 âm lịch thì tôi vỡ hụi, nên bà Th chưa hốt hụi, vì vỡ hụi nên đến lượt bà Th hốt mà chưa được hốt, số tiền 53.000.000đồng, phải trừ tiền hụi chết của 03 đầu hụi đã hốt với số tiền 6.000.000đồng (trừ tiền hụi chết); số tiền còn lại là 47.000.000đồng.
- Dây hụi IV hụi 1.000.000 khởi khui ngày 15/6/2019 âm lịch, có 26 hụi viên, bà Th tham gia 02 chân hụi, đã chầu được 23 lần (23 tháng) hụi sống, hụi này bà Th (7 Th) chưa hốt hụi, số tiền chầu của dây hụi này với 02 chân hụi, bà Th đã chầu tiền vốn là 33.800.000đồng, lời của 02 chân hụi là 12.200.000đồng.
Tổng số tiền đã chầu hụi của 04 dây hụi với số tiền là 106.960.000đồng, tôi đã trả được 2.000.000đồng, nên chỉ còn nợ số tiền là 104.960.000đồng. Tôi yêu cầu thanh toán hàng tháng với số tiền là 500.000đồng/tháng cho ông bà Th, bà cũng khẳng định số tiền hụi, lãi hụi do các hụi viên tham gia bà dùng vào mục đích sinh hoạt gia đình, ông T biết việc bà là chủ hụi, bà và ông T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, nên không ghi nhận được ý kiến tại các phiên hòa giải. Tuy nhiên, tại biên bản ghi nhận lời khai, do cán bộ Tòa án thực hiện ghi nhận ý kiến của ông T; ông T đã trình bày: ông và bà Nguyễn Thị Đ là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật từ năm 1983 đến nay, ông có nhận và biết được Tòa án mời làm việc do các nguyên đơn với tư cách là hụi viên khởi kiện vợ ông bà Đ là chủ hụi, do sau khi thực hiện khui hụi không thực hiện trả tiền hụi cho các hụi viên; ông có biết bà Đ là chủ hụi nhưng không biết việc ai là hụi viên, cũng như bà Đ khi thu tiền hụi, trả tiền hụi cho ai ông hoàn toàn không nắm được, cũng như không thực hiện thu hụi của các hụi viên thay bà Đ. Bà Đ khi thu tiền hụi, có tiền lời bao nhiêu ông không biết, bà Đ là vợ ông, là chủ hụi từ khoảng hơn 10 năm nay, việc bà Đ bể hụi ông biết, do bà Đ có báo cho ông, ông không đồng ý liên đới với bà Đ do ông không biết các hụi viên, không thu hụi, không biết bà Đ dùng tiền hụi vào mục đích gì; ngoài ra bà Đ còn bị rất nhiều người giựt hụi, ông phải T phụ bà Đ trả thay, ông biết việc đưa ông tham gia tố tụng, nhưng đề nghị vắng mặt tại các phiên hòa giải, đối chất, lấy lời khai và tại phiên tòa.
Tại phiên tòa:
- Bà Nguyễn Thị Lệ Th trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không có tài liệu, chứng cứ khác giao nộp cho Tòa án chứng minh cho ý kiến, yêu cầu của mình.
- Bà Nguyễn Thị Đ vắng mặt tại phiên tòa, nhưng lời trình bày phù hợp với lời trình bày của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án.
- Ông Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa, nên không ghi nhận được ý kiến.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ Th đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn bà Nguyễn Thị Đ đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T, đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự và xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Về việc giải quyết vụ án: căn cứ bà Th khởi kiện là các dây hụi ngày 20/7/2019 âm lịch, 15/6/2019 âm lịch, 28/7/2020, quá trình giải quyết vụ án bà Th xác định bà Đ còn nợ số tiền là 104.960.000đồng, không yêu cầu tính lãi, đồng thời bà Đ cũng thừa nhận còn nợ bà Th số tiền 104.960.000đồng, nên bà Th khởi kiện là có căn cứ. Đối với việc bà Đ xin trả dần hàng tháng, do bà Th không đồng ý nên không có cơ sở xem xét, chấp nhận. Quá trình giải quyết vụ án, bà Th rút một phần yêu cầu khởi kiện với số tiền 31.040.000đồng, nên có căn cứ đình chỉ yêu cầu này. Đối với yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn T liên đới trả số tiền 104.960.000đồng. Thấy rằng, trong thời gian bà Đ làm chủ hụi, bà Đ và ông T thừa nhận là vợ chồng, chung sống cùng nhau. Mặc khác, bà Đ thừa nhận, việc bà chơi hụi nhằm mục đích tạo thu nhập để phục vụ cuộc sống, sinh hoạt cho gia đình, ông T biết việc bà làm chủ hụi và đôi khi ông T có thay bà Đ nhận tiền hụi của hụi viên đến đóng hụi. Vì vậy, có căn cứ xác định rằng, đây là số nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân theo Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình nên có căn cứ để chấp nhận. Do đó, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lệ Th đối với bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn T. Buộc bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn T trả cho ông Nguyễn Văn Thanh số tiền 104.960.000đồng. Đình chỉ xét xử đối với số tiền 31.040.000đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 18, 23 Nghị định 19 ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về hụi, họ, biêu, phường, xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Lệ Th khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Đ thanh toán tiền hụi, bà Đ là người bị kiện đang cư trú tại địa bàn huyện Chợ Mới, giữa các bên công nhận có chơi hụi, nên Hội đồng xét xử thống nhất quan hệ tranh chấp để giải quyết vụ án là “tranh chấp về Hợp đồng góp hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.
Về nội dung:
Bà Nguyễn Thị Lệ Th, tham gia các dây hụi, do bà làm chủ hụi, tại đơn khởi kiện, cũng như tại biên bản hòa giải, biên bản ghi nhận lời khai, bà Th khai về các dây hụi sai ngày, tháng, năm so với lời khai của bà Đ, nhưng sau khi đối chiếu dây hụi tại sổ hụi gốc, cũng như lời khai của bà Đ, cả bà Th và bà Đ đều thống nhất về các dây hụi theo trình bày của bà Đ, cụ thể: dây hụi 2.000.000đồng, khởi khui ngày 20/7/2020 âm lịch, có 23 hụi viên, bà Th tham gia 01 chân hụi, chầu được 09 lần hụi sống, với số tiền 13.020.000đồng, tiền lời 4.980.000đồng; dây hụi 2.000.000đồng, khởi khui ngày 20/7/2020 âm lịch có 24 hụi viên, bà Th tham gia 01 chân hụi, chầu được 09 lần hụi sống, với số tiền 13.140.000đồng, tiền lời 4.860.000đồng; dây hụi 2.000.000đồng, khởi khui ngày 28/7/2020, có 28 hụi viên, bà Th tham gia 04 chân, đã hốt 03 chân hụi, còn 01 chân hụi sống chầu được 27 lần với số tiền 53.000.000đồng, trừ đi tiền hụi chết của 03 đầu hụi đã hốt là 6.000.000đồng, còn là: 47.000.000đồng; dây hụi 1.000.000đồng, khởi khui ngày 15/6/2019 âm lịch, có 26 hụi viên, bà Th tham gia 02 chân hụi, chầu được 23 lần hụi sống, với số tiền đã chầu của 02 chân là 33.800.000đồng, tiền lời hụi là 12.200.000đồng; về số lần chơi hụi, ngày chơi hụi, số tiền đã chầu hụi, tiền lời hụi cả nguyên đơn, bị đơn đều thống nhất, nên sự thống nhất này của các đương sự là sự kiện không cần chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét thấy, giữa bà Th và bà Đ có quan hệ chơi hụi, việc tham gia hụi là do các đương sự tự thỏa thuận, tự nguyện, không bị ép buộc, theo đó bà Đ là chủ hụi, các đương sự đã đối chiếu thống nhất số tiền hụi, các dây hụi như trên là đúng, nên Hội đồng xét xử thống nhất, việc bà Th yêu cầu khởi kiện là có căn cứ, lời trình bày của bà Th phù hợp với lời trình bày của bà Đ, cũng như số tiền, số lần khởi khui hụi các đương sự đều thống nhất; theo đơn yêu cầu khởi kiện của bà Th, yêu cầu bà Đ và ông T phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán tiền nợ hụi, thì thấy: việc ông T cho rằng, ông không có trách nhiệm liên đới với bà Đ, vì không biết bà Đ dùng tiền vào việc gì, nhưng ông lại biết việc bà Đ là chủ hụi hơn 10 năm nay, hơn nữa bà Đ cũng khẳng định việc bà là chủ hụi ông T biết, ông T cũng biết việc bà Đ vỡ hụi, cũng phụ bà Đ trong việc trả tiền hụi đối với người chơi hụi (Biên bản lấy lời khai ngày 02/6/2022 đối với ông T), bà Đ cũng khẳng định việc làm chủ hụi, tiền lời hụi bà dùng chung vào mục đích sinh hoạt gia đình. Do đó, có cơ sở xác định ông T hoàn toàn biết việc bà Đ là chủ hụi, biết việc bà Đ là người T nhận tiền từ các hụi viên, nên ông cho rằng không có trách nhiệm liên đới là không có căn cứ, cả ông T và bà Đ đều thừa nhận là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, bà Đ và ông T cùng sống chung nhà, bà Đ có dùng tiền chơi hụi vào mục đích chung trong sinh hoạt gia đình theo như lời trình bày của bà Đ, nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Th về việc buộc bà Đ, ông T phải có trách nhiệm liên đới theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình và thực hiện nghĩa vụ của hụi viên, người tham gia hụi theo quy định tại Nghị định số 19/20219/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ. Do đó, bà Đ, ông T phải có trách nhiệm liên đới thanh toán cho bà Th số tiền hụi đến nay chưa thanh toán là: 106.960.000đồng, do bà Đ đã thanh toán được một phần nợ với số tiền 2.000.000đồng, nên số tiền bà Đ, ông T còn phải liên đới thanh toán là 104.960.000đồng, bà Th không yêu cầu tính lãi, nên không xem xét, giải quyết. [2.2] Tại đơn khởi kiện, bà Th yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bà Đ, ông T phải thanh toán số tiền là 136.000.00đồng, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa bà rút một phần yêu cầu khởi kiện với số tiền là 31.040.000đồng, việc bà Th rút một phần yêu cầu khởi kiện hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, nên Hội đồng xét xử thống nhất đình chỉ yêu cầu khởi kiện theo quy định tại Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự với số tiền 31.040.000đồng. [2.3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Do yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lệ Th được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hơn nữa bà Th có đơn xin miễn giảm án phí, có xác nhận của địa phương là người cao tuổi, nên thuộc trường hợp miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, do vậy bà không phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
- Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí tương ứng với số tiền 104.960.000đồng, nhưng do bà Đ, ông Nguyễn Văn T phải liên đới thanh toán nợ, nên cả bà Đ, ông T phải liên đới chịu án phí theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. [2.4] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 357, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 144, 147, 244, 271, 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Căn cứ các Điều 18, 23 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2020 về hụi, họ, điêu, phường của Chính phủ.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Lệ Th (7 Th) đối với bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn T;
- Buộc bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn T phải liên đới trả bà Nguyễn Thị Lê Th số tiền 104.960.000đồng (một trăm không bốn triệu,chín trăm sáu mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Đình chỉ xét xử đối với số tiền 31.040.000đồng (ba mươi mốt triệu, không trăm bốn mươi nghìn đồng).
3. Về án phí sơ thẩm:
- Bà Nguyễn Thị Lệ Th (7 Th) được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- Bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn T phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 5.248.000đồng (năm triệu, hai trăm bốn mươi tám nghìn đồng), bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn T phải có nghĩa vụ nộp án phí tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Về quyền kháng cáo:
- Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bà Nguyễn Thị Lệ Th có mặt, có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
- Riêng bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Chợ Mới (2); - TAND tỉnh An Giang (1); - Chi cục THADS huyện Chợ Mới (1); - Các đương sự (để thi hành) (3); - Lưu hồ sơ (1); - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trung Kiên |