vanban.org

Bản án 78/2021/HS-GĐT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 29/11/2021 Hình sự Giám đốc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/11/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Hủy một phần Bản án hình sự phúc thẩm số 99/2020/HSPT ngày 29/12/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Bạc Liêu về phần trách nhiệm hình sự đối với Lương Bích C, Lương Văn S, Trần Thanh L và Châu Phương A để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định pháp luật. Các quyết định còn lại của Bản án hình sự phúc th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "lương bích c và đồng phạm làm giả tài liệu cơ quan, tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu,…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Căn cứ chính? Điều 382 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 388 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 391 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Quyết định số: 78/2021/HS-GĐT
Ngày 29 tháng 11 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ỦY BAN THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quảng Đức Tuyên

Các Thẩm phán:

Ông Hoàng Thanh Dũng

Ông Nguyễn Hữu Ba

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Cẩm Linh - Thẩm tra viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hồ Sỹ Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với:

Lương Bích C, sinh năm 1971 tại huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu; nơi cư trú: Ấp CD A, xã LĐ, huyện ĐH tỉnh Bạc Liêu; trình độ học vấn: 05/12; nghề nghiệp: Làm thuê; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Lương Văn B, sinh năm 1950 và bà Đỗ Thị Y, sinh năm 1952; chồng Châu Văn Tr, sinh năm 1969 (đã ly hôn); có người 03 người con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không.

Ngoài ra, vụ án còn có các bị cáo: Lương Văn S, Trần Thanh L, Châu Phương A.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Lương Bích C và ông Châu Văn Tr chung sống với nhau có 03 chung là Châu Phương A, Châu Tấn Ph và Châu Thị Anh Th. Cuối năm 2016, Châu Phương A kết hôn với một người quốc tịch Hàn Quốc tên Kim Dong Hwa, sau khi kết hôn thì ông Kim Dong Hwa trở về Hàn Quốc và không bảo lãnh Phương A sang Hàn Quốc. Tháng 6/2017, Châu Phương A quen biết và muốn kết hôn với một người quốc tịch Hàn Quốc tên Song Jeong Hyeok. Nhằm tạo điều kiện cho Châu Phương A kết hôn với ông Song Jeong Hyeok, Lương Bích C, Lương Văn S đã bàn bạc thống nhất đưa ra một tên không có thật là Châu Anh Th để Châu Phương A lấy tên này làm các giấy tờ giả nhằm hợp thức hóa nhân thân Châu Phương A thành Châu Anh Th để đăng ký kết hôn. Ngoài sự giúp đỡ của Lương Văn S thì Lương Bích C còn nhờ thêm Trần Thanh L và được L đồng ý. Sau đó, Trần Thanh L liên hệ nhờ ông Trần Văn V là phó ấp kiêm ấp đội trưởng Ấp 1, xã An Trạch A, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu nhờ giới thiệu gặp ông Trần Tấn Ph là Phó Công an xã An Trạch A, huyện ĐH để nhờ giúp đỡ.

Ngày 04/8/2017, Trần Thanh L và ông V đến nhờ ông Ph xác nhận, ông Ph nhận hồ sơ và xác nhận vào phiếu xác minh “đương sự Châu Phương A có tạm trú tại địa phương” và đưa cho ông Võ Văn Ph là Công an viên ký cán bộ lập phiếu rồi đưa giấy tờ này cho L mà không tiến hành xác minh nội dung ghi trong phiếu về Châu Anh Th tại địa phương theo quy định.

Sau đó, Trần Thanh L đưa phiếu xác minh nêu trên cho Lương Văn S để S đem đến Công an xã LĐ, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu để làm thủ tục nhập tên Châu Anh Th vào hộ khẩu Lương Bích C. Sau khi xem phiếu xác minh do S cung cấp, ông Trần Thành H là Phó công an xã LĐ chỉ đạo ông Đỗ Minh Th là Công an viên viết biên bản xác minh. Ông Th viết phiếu xác minh do S cung cấp với nội dung là Châu Anh Th có sinh sống tại ấp Cây Dương A, xã LĐ mà không trực tiếp xuống địa phương để xác minh.

Cùng ngày 04/08/2017, Lương Văn S đem biên bản xác minh này cùng với đơn xin xác nhận mối quan hệ gia đình do S tự viết và ký giả chữ ký của Lương Bích C vào mục người viết đơn, đến nhờ ông Lê Văn S, ông Đỗ Văn Ng là người cùng địa phương và ông Lê Văn H là Trưởng ấp Cây Dương A ký vào biên bản. Do tin tưởng S nên ông So và ông H đã ký vào biên bản, còn ông Ng thì không ký cho say rượu nên S ký giả chữ ký của ông Ng.

Ngày 08/08/2017, Châu Phương A cùng với Lương Văn S đến Công an xã LĐ để làm việc với tên giả là Châu Anh Th. Tại Công an xã LĐ, S đã nhờ người trong Công an xã (không rõ ai) viết hộ Phiếu thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu rồi tự ý giả chữ ký của Châu Anh Th vào biên bản khai này. Từ các thủ tục trên, đến ngày 10/8/2017, hộ khẩu của Lương Bích C có nhập thêm nhân khẩu mang tên giả Châu Anh Th, sinh ngày 20/10/1993, trú tại ấp Cây Dương A, xã LĐ, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu.

Sau đó, Châu Phương A đã sử dụng tên giả là Châu Anh Th và cùng Trần Thanh L đến Công an tỉnh Bạc Liêu làm chứng minh nhân dân mang tên Châu Anh Th và được cấp giấy CMND vào ngày 15/8/2017. Tiếp đó, Châu Phương A cùng với Lương Văn S đến UBND xã LĐ để Châu Phương A viết tờ khai đăng ký khai sinh giả mang tên Châu Anh Th và được giấy khai sinh vào ngày 17/8/2017.

Ngày 13/9/2017, qua công tác rà soát hồ sơ, Đội cảnh sát quản lý hành chính và trật tự xã hội Công an huyện ĐH phát hiện trường hợp đăng ký hộ khẩu của Châu Phương A không đúng quy định và có dấu hiệu tội phạm nên chuyển hồ sơ, tài liệu đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Hải điều tra làm rõ.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2020/HSST ngày 25/09/2020, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt Lương Bích C và Lương Văn S mỗi bị cáo 02 năm 03 tháng tù, Trần Thanh L 02 năm tù, Châu Phương A 09 tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 267 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về vật chứng; án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 29/9/2020 và 30/9/2020, Lương Bích C, Lương Văn S kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất của điều luật được áp dụng; Trần Thanh L xin được hưởng án treo; Châu Phương A xin được hưởng hình phạt tiền.

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 99/2020/HS-PT ngày 29/12/2020, Toà án cấp phúc thẩm quyết định không chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo và sửa hình phạt của Tòa án cấp sơ thẩm đối với các bị cáo như sau: Xử phạt Lương Bích C 09 tháng tù; Lương Văn S và Trần Thanh L mỗi bị cáo 06 tháng tù; Châu Phương A số tiền 30.000.000 đồng.

Ngày 29/02/2021, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu ban hành Báo cáo đề nghị giám đốc thẩm số 08/BC-VKS-P7, đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với hai bản án hình sự nêu trên để điều tra lại vì cho rằng:

Thứ nhất, hành vi của Trần Tấn Ph, Trần Thành H, Võ Văn Ph và Đỗ Minh Th có dấu hiệu tội “Giả mạo công tác”, theo quy định tại Điều 284 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 nhưng Tòa án 02 cấp không đề cập đến là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm.

Thứ hai, hành vi phạm tội của các bị cáo Lương Bích C, Lương Văn S, Trần Thanh L và Châu Phương A quy định tại điểm b khoản 2 Điều 267 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Tuy nhiên, Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 314 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, giảm hình phạt cho các bị cáo là sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật và chưa đánh giá đúng tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra.

Ngày 03/11/2021, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 264/QĐ-VC3-V1, quyết định:

“1. Kháng nghị giám đốc thẩm Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2020/HS-ST ngày 25/9/2020 của Toà án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu và Bản án hình sự phúc thẩm số 99/2020/HSPT ngày 29/12/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

2. Đề nghị Ủy ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử giám đốc thẩm theo hướng hủy 02 bản án hình sự nêu trên để điều tra xét xử lại theo quy định của pháp luật.”

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận toàn bộ Kháng nghị số 264/QĐ-VC3-V1 ngày 03/11/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Nhằm tạo điều kiện cho Châu Phương A kết hôn với người Hàn Quốc, Lương Bích C và Lương Văn S đã bàn bạc, thống đưa ra một tên không có thật là Châu Anh Th thay cho tên Châu Phương A với mục đích hợp thức hóa các giấy tờ nhân thân Châu Phương A thành Châu Anh Th để Châu Phương A đăng ký kết hôn. Để làm được các giấy tờ nêu trên, Lương Bích C đã nhờ sự giúp đỡ của Lương Văn S và Trần Thanh L. Thông qua sự quen biết và bằng thủ đoạn gian dối nên vào khoảng thời gian từ ngày 04/8/2017 đến ngày 08/08/2017, Lương Văn S và Trần Thanh L đã làm giả phiếu xác minh xác nhận một người không có thật mang tên Châu Anh Th là con ruột của Lương Bích C từng sinh sống tại Ấp 1, xã An Trạch A, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu và đang sinh sống tại ấp Cây Dương A, xã Long Điền, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu. Bằng các thủ tục trên, ngày 10/8/2017 Châu Anh Th đã được nhập vào hộ khẩu của Lương Bích C. Sau đó, nhờ sự giúp đỡ của Lương Văn S, Trần Thanh L thì Châu Phương A đã đăng ký và làm xong giấy chứng minh nhân dân giả vào ngày 15/08/2017 và giấy khai sinh giả vào ngày 17/08/2017 mang tên Châu Anh Th. Các bị cáo đã làm giả 03 giấy tờ: sổ hộ khẩu; chứng minh nhân và giấy khai sinh. Hành vi nêu trên của các bị cáo Lương Bích C, Lương Văn S, Trần Thanh L, Châu Phương A đã phạm vào tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 267 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Đối với nội dung kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét thấy:

2.1. Về việc bỏ lọt hành vi phạm tội của Trần Tấn Ph, Trần Thành H, Võ Văn Ph và Đỗ Minh Th về tội “Giả mạo công tác”, theo quy định tại Điều 284 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009:

Khi nhận các giấy tờ xác nhận đối với người mang họ tên là Châu Anh Th do Lương Văn S, Trần Thanh L cung cấp thì ông Trần Tấn Ph, ông Trần Thành H, ông Võ Văn Ph và ông Đỗ Minh Th không tiến hành kiểm tra, xác minh theo quy định mà ký xác nhận là có sai sót. Tuy nhiên, hồ sơ vụ án thể hiện thì ông Trần Tấn Ph, ông Trần Thành H, ông Võ Văn Ph và ông Đỗ Minh Th không biết người tên Châu Anh Th là giả mạo và không nhận lợi ích trong việc xác minh trên. Do đó, hành vi xác nhận của ông Trần Tấn Ph, ông Trần Thành H, ông Võ Văn Ph và ông Đỗ Minh Th không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Đồng thời tại kết luận điều tra và Cáo trạng, Cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã xác định hành vi của ông Trần Tấn Ph, ông Trần Thành H, ông Võ Văn Ph và ông Đỗ Minh Th không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, vì vậy không truy cứu trách nhiệm hình sự. Tại bản án hình sự sơ thẩm và bản án hình sự phúc thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đã nhận định hành vi của ông Trần Tấn Ph, ông Trần Thành H, ông Võ Văn Ph và ông Đỗ Minh Th là có sai sót nhưng không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, kháng nghị của Viện trưởng viện kiểm sát về vấn đề này là không có cơ sở chấp nhận.

2.2. Về việc giảm hình phạt của các bị cáo Lương Bích C, Lương Văn S, Trần Thanh L và Châu Phương A:

Các bị cáo Lương Bích C, Lương Văn S, Trần Thanh L và Châu Phương A làm giả 03 loại giấy tờ: Sổ hộ khẩu; chứng minh nhân dân; giấy khai sinh. Hành vi làm giả mỗi loại giấy tờ của các bị cáo đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do đó, hành vi của các bị cáo Lương Bích C, Lương Văn S, Trần Thanh L và Châu Phương A đã phạm vào tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” với mức định khung là phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 267 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, tương ứng với điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, quy định phạt tù từ 02 năm đến 05 năm. Tuy nhiên, Tòa án cấp phúc thẩm nhận định hành vi phạm tội của các bị cáo nêu trên thuộc khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đồng thời áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quy định tại i khoản 1 Điều 51 đối với các bị cáo nêu trên để giảm hình phạt các bị cáo là sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật. Do đó, cần phải hủy một phần bản án hình sự phúc thẩm về trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo Lương Bích C, Lương Văn S, Trần Thanh L và Châu Phương A để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định pháp luật.

Ngoài ra, các bị cáo Lương Bích C, Lương Văn S, Trần Thanh L và Châu Phương A kháng cáo xin giảm hình phạt, đồng thời trong phần nhận định Tòa án cấp phúc thẩm cũng nhận định giảm hình phạt cho các bị cáo. Tuy nhiên, tại phần quyết định Tòa án cấp phúc thẩm tuyên xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo nhưng Tòa án cấp phúc thẩm quyết định sửa hình phạt của Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo và giảm hình phạt đối với các bị cáo là không phù phợp, giữa nhận định và quyết định không liên quan với nhau.

Từ những phân tích trên, cần chấp một nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, hủy một phần Bản án hình sự phúc thẩm số 99/2020/HSPT ngày 29/12/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Bạc Liêu về phần trách nhiệm hình sự đối với Lương Bích C, Lương Văn S, Trần Thanh L và Châu Phương A để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định pháp luật.

Các quyết định còn lại của Bản án hình sự phúc thẩm số 99/2020/HSPT ngày 29/12/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Bạc Liêu tiếp tục có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 382, khoản 3 Điều 388, Điều 391 và Điều 395 Bộ luật Tố tụng hình sự:

1. Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Hủy một phần Bản án hình sự phúc thẩm số 99/2020/HSPT ngày 29/12/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Bạc Liêu về phần trách nhiệm hình sự đối với Lương Bích C, Lương Văn S, Trần Thanh L và Châu Phương A để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định pháp luật.

3. Các quyết định còn lại của Bản án hình sự phúc thẩm số 99/2020/HSPT ngày 29/12/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Bạc Liêu tiếp tục có hiệu lực pháp luật.

4. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

5. Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ