vanban.org

Bản án 78/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 23/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Võ Văn P phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo: Võ Văn P 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/11/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Văn P phạm tội “Cướp giật tài sản” - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Võ Văn P phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN BÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2020/HS-ST
Ngày : 23/7/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đức Thụ

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Bình

Bà Nguyễn Thị Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiên – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Trúc Giang - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 91/2020/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Võ Văn P, sinh năm 1992 tại Tp. Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: Phường A, Quận B, Tp. Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Văn T (chết) và bà: Hoàng Thị H, sinh năm 1970; vợ: Nguyễn Thị Quỳnh A, sinh năm 1994 và 01 con; nhân thân: Bản án số 05/2007/HSST ngày 05/01/2007 Tòa án nhân dân Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng 02 năm về tội “Cướp tài sản”, Bản án số 31/2008/HS-ST ngày 06/3/2008 Tòa án nhân dân Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, Bản án số 306/2015/HSST ngày 26/8/2015 Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 31/8/2017; tiền án: không; tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: 30/11/2019. Có mặt.

- Bị hại: Chị Lê Thị L, sinh năm 1969, nơi cư trú: Phường C, quận D, Tp. Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Võ Minh L, sinh năm 1987, nơi cư trú: Phường A, Quận B, Tp. Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1996, địa chỉ: phường E, Quận F, Tp. Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

3. Chị Nguyễn Thị Tuyết V, sinh năm 1998, địa chỉ: Phường A, Quận B, Tp. Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 30/11/2019, Võ Văn P điều khiển xe gắn máy hiệu Wave biển số 92M1-066.03 đến nhà số 19 đường X, Phường C, quận B thì phát hiện chị Lê Thị L đang đi bộ trên lề đường, trên vai có đeo 01 túi xách. P nảy sinh ý định chiếm đoạt nên điều khiển xe gắn máy chạy lên rồi áp sát bên phải trước mặt chị L, dùng tay trái giật được túi xách của chị L. Sau đó, P tăng ga xe bỏ chạy được 01 đoạn thì bị té ngã. P bỏ xe chạy bộ thêm được 01 đoạn thì bị quần chúng bắt giữ được giao Công an Phường 12, quận Tân Bình giải quyết.

Tại Cơ quan điều tra, Võ Văn P đã thừa nhận hành vi phạm tội như nêu trên.

Vật chứng vụ án:

- 01 túi xách trị giá 100.000 đồng bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Oppo J5 trị giá 2.100.000 đồng, số tiền 6.000.000 đồng và 01 hộ chiếu tên Lê Thị L là tài sản bị chiếm đoạt. Tổng giá trị tài sản Phi chiếm đoạt là 8.200.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản cho bị hại chị Lê Thị L, chị Lớ đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm.

- 01 xe gắn máy hiệu Wave biển số 92M1-066.03, số khung: RLHHC08042Y108334, số máy: HC08E0108323 thu giữ của Phi. Qua xác minh, biển số 92M1-066.03 là của xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius do anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1996, địa chỉ: phường E, Quận F, Tp. Hồ Chí Minh đứng tên đăng ký, anh Dũng đã bị mất trộm vào năm 2018; qua giám định không xác định được biển số là thật hay giả. Xác minh xe gắn máy có số khung: RLHHC08042Y108334, số máy: HC08E0108323 là có chủ sở hữu là anh Hà Trưởng T đứng tên nhưng anh đã bán xe cho chị Nguyễn Thị Tuyết V, sinh năm 1998, địa chỉ: Phường A, Quận B, Tp. Hồ Chí Minh. Qua xác minh, chị V hiện không rõ ở đâu. P khai mượn xe gắn máy trên của anh trai Võ Minh L để làm phương tiện đi lại. Anh Võ Minh L khai mua xe gắn máy trên cách đây khoảng 4, 5 năm từ một người không rõ lai lịch, anh đã làm thất lạc giấy mua bán xe và bản chính giấy đăng ký xe, anh không biết biển số xe và số khung, số máy xe không trùng với nhau, anh không thay đổi kết cấu xe hay màu sơn xe. Đến đầu tháng 12/2019, anh có đưa xe cho Phi mượn để làm phương tiện đi lại. Công an quận Tân Bình đã đăng báo tìm chủ sở hữu xe gắn máy có số khung, số máy như trên nhưng chưa có kết quả.

- 01 DVD chứa hình ảnh sự việc.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia TA-110 màu đen và 01 áo khoác màu đen thu giữ của Phi.

Tại bản cáo trạng số 84/CT-VKS ngày 17 tháng 6 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Võ Văn P về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt từ 04 năm đến 05 năm tù.

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự thì đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không có tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Võ Văn P, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo Võ Văn P đã có hành vi điều khiển xe gắn máy áp sát rồi công khai giật lấy 01 túi xách trị giá 100.000 đồng bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Oppo J5 trị giá 2.100.000 đồng và số tiền 6.000.000 đồng của chị Lê Thị L, đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”, thuộc trường hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”, là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất táo bạo, liều lĩnh ngang nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác ngay trên đường phố nơi đông người và dùng thủ đoạn nguy hiểm là xe gắn máy phân khối lớn, là nguồn nguy hiểm cao độ làm phương tiện phạm tội, tiềm ẩn nguy cơ dễ gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của bị hại và những người đang lưu thông trên đường. Xét về tính chất vụ án là nghiêm trọng, bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức hành vi cướp giật tài sản của người khác bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm, chứng tỏ bị cáo có thái độ coi thường pháp luật. Xét nhân thân bị cáo là xấu, bị cáo đã bị kết án nhưng không lấy làm bài học cho bản thân mà lại cố tình phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét tình tiết: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi và trả lại cho bị hại, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Lê Thị L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng vụ án:

- 01 DVD chứa hình ảnh sự việc là chứng cứ của vụ án và có thể lưu trong hồ sơ vụ án nên cần lưu vào hồ sơ vụ án.

- 01 điện thoại di động và 01 áo khoác thu giữ của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

- 01 xe gắn máy biển số 92M1-066.03, số khung: RLHHC08042Y108334, số máy: HC08E0108323 thu giữ của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy biển số 92M1-066.03 là vật không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy; đối với xe gắn máy hiệu Wave có số khung: RLHHC08042Y108334, số máy: HC08E0108323 chưa có nguồn gốc rõ ràng nên cần giao Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Bình đăng báo tìm chủ sở hữu trong một thời gian nhất định, quá thời hạn trên không có ai đến nhận thì lập thủ tục nộp ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171 và điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Căn cứ Điều 106; Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

[1] Tuyên bố bị cáo Võ Văn P phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo: Võ Văn P 04 (bốn) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 30/11/2019.

[2] Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa dữ liệu trích xuất camera (01 gói niêm phong, bên ngoài có xác nhận của Phùng Viết P và mộc dấu Công an Phường 12, quận Tân Bình).

Tịch thu và tiêu hủy biển số 92M1-066.03.

Giao Chi cục thi hành án dân sự quân Tân Bình đăng báo tìm chủ sở hữu 01 xe gắn máy hiệu Wave màu tím có số khung: RLHHC08042Y108334, số máy: HC08E0108323 trong thời gian 01 năm, quá thời hạn trên không có ai đến nhận thì lập thủ tục nộp ngân sách Nhà nước.

Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Nokia TA-1010 màu đen, số imei: 356944090891705 và 01 áo khoác màu đen.

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 63/PNK ngày 29/4/2020 của Công an quận Tân Bình).

[3] Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án.

Cỡ chữ