- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Đình Long - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình L (Tên gọi khác: T) phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2019/HS-ST Ngày 15-11-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THUỶ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Xuân Huế.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Cái Thị Duyên.
2. Ông Nguyễn Hữu T.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Tứ - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 78/2019/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2019, đối với bị cáo:
Hoàng Đình L (Tên gọi khác: T), sinh ngày 10/6/2001 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Trú tại: tổ 6, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Thợ gò hàn; trình độ văn hoá: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Đình A, sinh năm 1972 và Nguyễn Thị L, sinh năm: 1975; Vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không. Đang bị áp dụng biện P ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
- Bị hại: Anh Võ Văn P và chị Trần Thị T. Nơi cư trú: Tổ 6, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1975. Nơi cư trú: Tổ 6, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- Người làm chứng: Ông Hoàng Đình A, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Tổ 6, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có ý định chiếm đoạt tài sản của người khác nên khoảng 13 giờ 30 phút ngày 25/7/2019, Hoàng Đình L đi ngang qua nhà chị Trần Thị T và anh Võ Văn P ở tổ 6, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế thì phát hiện cửa sổ nhà chị T và anh P không đóng. L trèo hàng rào vào trong khuôn viên nhà rồi đến kho để đồ của vợ chồng anh P lấy một máy khoan. L tháo đầu khoan ra sau đó lắp Tuốc
- nơ -vít mang theo vào để mở các ốc vít trên khung cửa sổ ra và đột nhập vào trong nhà. L đi vào phòng ngủ phát hiện có một con heo đất màu vàng để trên bàn nên cầm lấy và đi ra phía sau nhà anh P đập heo đất ra đếm được số tiền là: 15.040.000 đồng. Sau khi lấy được số tiền trên, L mang về gửi cho mẹ mình là bà Nguyễn Thị L 5.500.000 đồng, số tiền còn lại L tiêu xài cá nhân.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 75 ngày 25/9/2019 của Hội đồng định giá Ủy ban nhân dân thị xã H, kết luận: 01 ống binh đựng tiền tiết kiệm (Hình dáng con heo được làm bằng đất nung), trị giá 10.000đ
Tại bản cáo trạng số: 86/CT-VKS-HTh ngày 16/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Hoàng Đình L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Đình L từ 06 tháng đến 08 tháng tù. Đề nghị xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 tuốc nơ vít mũi 4 chấu màu trắng đục, 04 mảnh vỡ bằng đất nung màu vàng.
Ý kiến và lời nói sau cùng của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi của mình như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm P luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xét hành vi của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Vào khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 25/7/2019, bị cáo Hoàng Đình L đã có hành vi lén lút đột nhập vào nhà của anh Võ Văn P và chị Trần Thị T chiếm đoạt 01 con heo đất bên trong có số tiền 15.040.000 đồng. Như vậy, với hành vi và hậu quả nêu trên bị cáo Hoàng Đình L đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã H truy tố bị cáo L về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng P luật.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo L là người đã trưởng T, bị cáo biết rõ hành vi của mình là xâm phạm đến quyền sở hữu hợp P về tài sản của công dân được P luật bảo vệ và bị P luật nghiêm cấm nhưng vì lười lao động, muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên đã thực hiện hành vi phạm tội, gây nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, T khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Các tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét các căn cứ quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy rằng: Bị cáo L có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tuy nhiên xét thấy bị cáo phạm tội vào ban ngày, chuẩn bị sẳn công cụ phạm tội qua đó thể hiện tính chất táo bạo, liều lĩnh của bị cáo nên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Xét bị cáo không có tài sản, nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét
Xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã H đã xử lý vật chứng trả lại số tiền 5.500.000 đồng, 01 con dao Thái lan, 01 cây kéo màu vàng đậm, 01 cái liềm màu đỏ đen, 01 máy khoan tay hiệu BOSCH chủ sở hữu. Không ai có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 Tuốc - nơ - vít mũi 4 chấu màu trắng đục là công cụ thực hiện tội phạm; 04 mảnh vỡ bằng đất nung màu vàng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của P luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình L (Tên gọi khác: T) phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Đình L 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử: Tịch thu tiêu hủy 01 Tuốc - nơ - vít mũi 4 chấu màu trắng đục, 04 mảnh vỡ bằng đất nung màu vàng.
(Vật chứng trên hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17 tháng 10 năm 2019)
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử buộc bị cáo Hoàng Đình L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế - VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế - VKSND TX. Hương Thuỷ; - Sở Tư P tỉnh Thừa Thiên Huế - Cơ quan điều tra TX. Hương Thuỷ; - THAHS TX. H; - THADS TX. Hương Thuỷ; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phan Thị Xuân Huế |