vanban.org

Bản án 78/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Áp dụng Điều 28; 35; 147; 228; 235; 264; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị P được ly hôn anh Mạc Văn N. 2/ Về nuôi con chung: Xử giao chị Bùi Thị P nuôi con chung là Mạc Kim A, sinh ngày 16/02/2012; anh N được quyền thăm nom con sau khi đã ly hôn, không ai được cản trở anh N thực hiện quyền này. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? * Áp dụng Điều 28; 35; 147; 228; 235; 264; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2019/HNGĐ-ST
Ngày 21-11-2019
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thân Trọng Khôi

Các hội thẩm nhân dân: Ông: Nguyễn Quang Vinh

Ông: Lê Văn La

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Luyện - Kiểm sát viên.

Ngày 21/11/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 341/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 9 năm 2019 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159a/2019/QĐXXST-DS ngày 14/10/2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 144/2019/QĐST-DS ngày 31/10/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị P, sinh năm 1989 (có mặt).

- Bị đơn: Anh Mạc Văn N, sinh năm 1987 (có mặt)

Đều cư trú: Thôn T, xã D, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Bùi Thị P trình bày: Tôi kết hôn với anh Mạc Văn N ngày 22/10/2009 trước khi cưới có được tìm hiểu, tự nguyện thỏa thuận, đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến giữa năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau nên trong cuộc sống, vợ chồng thường bất đồng quan điểm cãi nhau; vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ vợ chồng từ giữa năm 2013. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn anh N.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Mạc Kim A, sinh ngày 16/02/2012, Hiện con đang ở cùng tôi, con khỏe mạnh và phát triển bình thường, nay ly hôn tôi xin được nuôi con, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản gì đáng giá, nên tôi không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Mạc Văn N: Mặc dù đã được Toà án thông báo thụ lý, giao và niêm

yết, các thủ tục tố tụng khác theo đúng quy định của pháp luật, nhưng anh N vẫn không phối kết hợp để làm việc.

Tại phiên tòa hôm nay: Chị P có mặt vẫn giữ nguyên yêu cầu trên. Anh N vắng mặt; quá trình giải quyết vụ án anh N đã sử dụng số điện thoại xxxxxxxxxx liên hệ với Tòa án, nhưng vẫn không phối kết hợp làm việc, mặc dù đã được Tòa án thông báo phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai.

Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của thẩm phán, thư ký, hội thẩm nhân dân, chị P, anh N trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay anh N vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án thông báo phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai; do vậy đề nghị HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật. Đề nghị xét xử cho chị P được ly hôn anh N; giao chị P nuôi con chung; anh N được quyền thăm nom con sau khi đã ly hôn, không ai được cản trở anh N thực hiện quyền này; Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản: Chị P không đề nghị Tòa án giải quyết, nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết; chị P phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ngoài ra còn đề nghị tuyên quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu đầy đủ, toàn diện các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về quan hệ pháp luật tranh chấp, phạm vi khởi kiện, thẩm quyền giải quyết và thủ tục tố tụng: Tại đơn khởi kiện xin ly hôn và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Bùi Thị P, sinh năm 1989, khởi kiện xin ly hôn anh Mạc Văn N, sinh năm 1987, Đều cư trú: Thôn T, xã D, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang; đề nghị Tòa án giải quyết về con chung, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và tài sản. Như vậy đây là quan hệ pháp luật tranh chấp hôn nhân và gia đình, đề nghị xin được ly hôn, đề nghị giải quyết về con chung, không đề nghị giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và tài sản, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

Thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay chị P có mặt, anh N vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án thông báo phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai. Nên HĐXX căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục xét xử vụ án.

* Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị P kết hôn với anh Mạc Văn N ngày 22/10/2009, trên cơ sở tự nguyện hợp pháp, đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận đến giữa năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, nên trong cuộc sống và trong công việc làm ăn hàng vợ chồng thường bất đồng quan điểm dẫn đến cãi nhau, không bảo ban được nhau để cùng xây dựng hạnh phúc gia đình. Vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ vợ chồng từ tháng 6/2013. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn chị P thiết tha xin được ly hôn anh N; Phía anh N mặc dù đã được Toà án tống đạt thông báo thụ lý, giao và niêm yết các văn bản, thủ tục tố tụng khác theo đúng quy định của pháp luật, nhưng anh N không phối kết hợp để làm việc, không khai báo, tại phiên toà hôm nay anh N vắng mặt. HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã diễn ra căng thẳng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần xử cho chị P được ly hôn anh N để giải phóng cho cả 2 bên, xét là phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về nuôi con chung: Vợ chồng có một con chung là Mạc Kim A, sinh ngày 16/02/2012. Hiện con đang ở cùng chị P, cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường, nay ly hôn chị P xin được nuôi con, cháu Kim A cũng có nguyện vọng muốn ở với mẹ. HĐXX xét thấy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con trẻ, cần giao chị P nuôi con, anh N được quyền thăm nom con sau khi đã ly hôn, không ai được cản trở anh N thực hiện quyền này. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị P không đề nghị Tòa án giải quyết, nên HĐXX không đề cập xem xét giải quyết. Xét là phù hợp Điều 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về chia tài sản: Quá trình giải quyết vụ án, chị P không đề nghị Tòa án giải quyết, tại phiên tòa hôm nay anh N vắng mặt, chị P có mặt không đề nghị Tòa án giải quyết. Nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ghi nhận chị P đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2018/0007374 ngày 03/9/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

* Áp dụng Điều 28; 35; 147; 228; 235; 264; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị P được ly hôn anh Mạc Văn N.

2/ Về nuôi con chung: Xử giao chị Bùi Thị P nuôi con chung là Mạc Kim A, sinh ngày 16/02/2012; anh N được quyền thăm nom con sau khi đã ly hôn, không ai được cản trở anh N thực hiện quyền này.

3/ Về án phí: Chị Bùi Thị P phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị P đã nộp theo biên lai thu số AA/2018/0007374 ngày 03/9/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.

Báo cho đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết bản án.

Án xử sơ thẩm công khai./.

Cỡ chữ